Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập đọc Lớp 4

doc 11 trang Hoàng Oanh 26/12/2025 150
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập đọc Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_ren_ki_nang_doc_dien.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập đọc Lớp 4

  1. I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến : MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Dạy môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 3.Tác giả Họ và tên: Nguyễn Thị Luyến Ngày, tháng, năm sinh: 10/12/1979 Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Trường Thọ, An Lão, Hải Phòng Số điện thoại: 0397939741 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến Tên đơn vị: Trường Tiểu học Trường Thọ Địa chỉ: Xã Trường Thọ- huyện An Lão- Hải Phòng II. Mô tả giải pháp đã biết Môn Tiếng Việt ở trường Phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ cho 4 dạng hoạt động tương ứng với chúng là 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học. Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng chuyển chữ viết thành ngôn ngữ, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học . Những kinh nghiệm đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, những tư tưởng, tình cảm của thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường và ngược lại. Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây họ biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy. Biết đọc, con người có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc càng quan trọng vì nó giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin không những biết đọc Tiếng Việt mà cần phải biết đọc cả tiếng nước ngoài. Đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời. Qua nhiều năm được phân công dạy lớp 4 và qua dự giờ tôi thấy giáo viên thường sử dụng hình thức và phương pháp theo quy trình: Phần luyện đọc diễn cảm: Giáo viên hướng dẫn đọc từng đoạn - Học sinh đọc - Nhận xét - Giáo viên hướng dẫn đọc bài - Giáo viên đọc mẫu và học sinh đọc lại toàn bài - Học sinh đọc đoạn thích - Học thuộc lòng (nếu có) II.1. Ưu điểm của giải pháp đã biết 1
  2. Học sinh đọc được văn bản theo sự hướng dẫn của thầy cô, các em biết được nội dung chính của bài, trả lời được câu hỏi ở sách giáo khoa. Giáo viên và học sinh không mất nhiều thời gian để chuẩn bị bài. II.2. Những hạn chế, bất cập của giải pháp đã biết Do đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4 mang tính cụ thể, do vốn ngôn ngữ và vốn sống của các em còn hạn chế nên chúng ta không tổ chức dạy học văn với tư cách là một môn học độc lập. Hiện nay, trong thực tế luyện đọc ở lớp 4, kĩ năng đọc diễn cảm của học sinh chưa cao, các biện pháp luyện đọc diễn cảm chưa đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu mong đợi. Phần lớn giáo viên sử dụng các biện pháp truyền thống trong việc luyện đọc diễn cảm. Một trong những biện pháp được sử dụng khá phổ biến trong thực tế luyện đọc diễn cảm ở Tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng là luyện theo mẫu vì phương pháp này gọn nhẹ, tiết kiệm được lời giảng, phù hợp với nội dung dạy học. Khi sử dụng phương pháp luyện theo mẫu chúng ta phải sử dụng lượng thời gian, công sức cao vì đây là phương pháp mô phỏng. Học sinh thường không tránh khỏi bắt chước, rập khuôn, máy móc. Giáo viên chưa chú ý chữa các lỗi phát âm cho học sinh hoặc không có biện pháp luyện cho học sinh đọc to, đọc nhanh, đọc diễn cảm. Thực tế học sinh đọc diễn cảm một văn bản là rất ít. Hầu như các em mới chỉ đạt đến yêu cầu: Đọc đúng tốc độ, phát âm tương đối chính xác, hiểu được nội dung bài còn yêu cầu về kĩ năng đọc diễn cảm là rất thấp. Mặt khác nhiều giáo viên cũng còn lúng túng khi dạy tập đọc. Cần đọc bài với giọng như thế nào, làm thế nào để sửa chữa cách đọc cho học sinh diễn cảm hơn đó là những trăn trở của mỗi giáo viên trong những giờ tập đọc. Xuất phát từ những thực trạng nói trên, tôi mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh ” với hy vọng được đóng góp một chút kinh nghiệm của bản thân nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập đọc lớp 4. III. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến III.1. Nội dung giải pháp đề xuất: Giải pháp 1: Việc chuẩn bị của giáo viên: Khi soạn giảng, chúng ta cần xác định được mục tiêu của nội dung bài dạy, xác định rõ thể loại văn bản để tìm ra giọng đọc phù hợp với văn bản đó. Chúng ta luyện đọc mẫu ở nhà, có ý thức tự điều chỉnh mình đọc đúng hơn, hay hơn, nếu có thể ta sử dụng máy ghi âm ghi lại giọng đọc của mình điều này sẽ giúp mình phát hiện ra các nhược điểm để tự mình điều chỉnh, sửa chữa. Biết phối hợp nhịp nhàng lời mô tả giọng đọc với làm mẫu, có sự hài hòa giữa những lời yêu cầu chỉ dẫn về cách đọc và khả năng biểu diễn những yêu cầu chỉ dẫn này bằng giọng đọc mẫu diễn cảm của giáo viên. Ngoài ra, giáo viên cũng dự tính được lỗi học sinh mắc phải trong bài để đưa ra cách chữa lỗi hay nhất. Và trong giờ dạy tập đọc, chúng ta không bắt ép học sinh phải đọc theo một phương ngữ nhất định khi mà phương ngữ các em có được khác 2
  3. với phương ngữ mà cô yêu cầu. Giải pháp 2: Tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh đọc diễn cảm chưa hay Học sinh đọc chưa đúng, chưa hay, chưa diễn cảm là do: \ Đọc không đúng chỗ ngắt giọng: Đọc sai chỗ ngắt giọng phản ánh một cách hiểu sai nghĩa hoặc ít ra là một cách đọc không để ý đến nghĩa. Vì vậy đọc ngắt giọng đúng là mục đích của dạy đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài. Lỗi học sinh mắc phải khi đọc những bài văn xuôi, thường ngắt giọng sai ở những câu văn dài có cấu trúc ngữ pháp phức tạp. Ví dụ: Bài: Đôi giày ba ta màu xanh. “ Tôi tưởng tượng nếu mang nó/ vào chắc bước đi sẽ nhẹ và nhanh hơn, tôi sẽ chạy trên những con đường đất mịn trong làng trước/ cái nhìn thèm muốn của các bạn tôi.” Ví dụ: Bài: Truyện cổ nước mình. Với thơ lục bát các em thường ngắt nhịp 2/2/2 (6tiếng) 4/4 (8tiếng) Vàng cơn/ nắng trắng/ cơn mưa Con sông/ chảy có/ rặng dừa/ nghiêng soi. Những trường hợp trên đã bị xem là ngắt giọng sai vì đã tách một từ ra làm hai, tách từ chỉ loại với danh từ, tách danh từ ra khỏi định ngữ đi kèm, ngắt giọng sau một hư từ. \ Lỗi về đọc không đúng kiểu câu: Học sinh chỉ biết đọc đều cho tất cả các loại câu: kể, khiến, cảm, hỏi. Học sinh không biết cách thể hiện khi nào thì thể hiện ngữ điệu yếu, ngữ điệu mạnh, ngữ điệu xuống, ngữ điệu lên. * Ngữ điệu lên xuất hiện ở các câu hỏi: Ví dụ: Thưa chuyện với mẹ - Ai xui con thế? Ví dụ: Ở Vương quốc Tương Lai. - Cậu thấy chùm quả của mình thế nào? * Ngữ điệu yếu, nghỉ hơi dài sau chỗ có dấu chấm lửng. Ví dụ:Người ăn xin - Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại * Ngữ điệu mạnh xuất hiện ở câu cảm và câu khiến như là: Ví dụ: Con chuồn chuồn nước Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao? \ Lỗi về tốc độ đọc: Ở những văn bản đòi hỏi phải thể hiện tốc độ đọc nhanh, khi yêu cầu đặt ra như thế học sinh thường hiểu là với văn bản này phải đọc liến thoắng đọc nhanh đến nỗi người nghe không thể nào theo dõi được hoặc đối với những văn bản yêu cầu đặt ra là đọc chậm rãi thì học sinh lại đọc quá chậm: đọc từng tiếng một rời rạc như có cảm giác học sinh vừa đọc vừa dừng lại để đánh vần. \ Lỗi về cường độ: Khi nói đến sử dụng cường độ trong đọc diễn cảm cần phải nói đến chuyện dạy đọc to cho học sinh. Đọc phải đủ lớn để các bạn ngồi ở vị trí xa 3
  4. nhất cũng có thể nghe được. Nhưng thực tế trong một lớp học vẫn còn tồn tại một số học sinh đọc quá nhỏ thậm chí giọng đọc phát ra không đủ để cho bạn ngồi cùng bàn có thể theo dõi được. \ Lỗi về cao độ: Thể hiện cao độ khi đọc là muốn nói đến chỗ lên giọng, xuống giọng. Học sinh ở lớp khi đọc bài còn tùy tiện lên giọng xuống giọng sau mỗi câu mà không biết chỗ đó có dụng ý nghệ thuật gì. Giải pháp 3: Luyện đọc đúng, đọc lưu loát văn bản. Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân ,để đạt mục tiêu dạy học môn Tập đọc,bản thân tôi đã đầu tư các biện pháp sau : 3.1. Luyện phát âm: Muốn học sinh đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng dẫn đến đọc diễn cảm, trước hết, tôi phải giúp các em phát âm chuẩn, đọc đúng loại câu, đúng ngữ điệu câu, hiểu nội dung bài, các em phải biết đặt mình vào vị trí của nhân vật, của tác giả. Như chúng ta đã biết đa học sinh Hải Phòng chúng ta khi nói và đọc thường mắc một số lỗi phát âm như: nói lẫn giữa các âm l/n hoặc việc phát âm của các em cũng không mang tính đồng nhất : s - x , r - d , tr - ch... Vì vậy khi phát âm đã làm mất đi cái hay, cái tự nhiên và điều này đã làm cho các em thấy xấu hổ và mất tự tin khi đọc; hạn chế việc đọc của các em làm mất đi sự hứng thú đối với môn học này. Chính vì vậy giáo viên phải chú ý quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong lớp mình và khi dạy học, chúng ta phải phụ thuộc vào trình độ của học sinh để hướng dẫn cho các em đọc đúng, phát âm chuẩn. Nếu học sinh đọc chưa tốt, phát âm chưa đúng thì giáo viên phải dừng lại luyện đọc cho đúng. Nếu học sinh đọc đúng, đọc tốt rồi thì chúng ta mới luyện đọc hay, đọc diễn cảm. Động viên các em và giao nhiệm vụ cho cả lớp cùng giúp bạn bằng cách không trêu ghẹo mà tạo cơ hội cho bạn sửa chữa. 3.2. Luyện ngắt giọng: Những lỗi sai trên là do người đọc không tính đến cấu trúc ngữ pháp chủ ngữ và vị ngữ, chỗ ngắt giọng không được rơi vào sau hư từ hoặc trong cụm 1 từ, 1 từ lại tách ra làm hai. Để chữa được những lỗi này tôi hướng dẫn cho học sinh. - Thường ngắt giọng giữa ranh giới chủ ngữ và vị ngữ. Ví dụ: Mẹ ốm Lá trầu / khô giữa cơi trầu Truyện Kiều/ gấp lại trên đầu bấy nay. Tuy những trường hợp có thể nói thơ là sự “phân vân” giữa nhạc và ý nên chỗ cần luyện ngắt nhịp là chỗ mà nhạc thơ theo áp lực tự nhiên và ý nghĩa - Ngữ pháp không khớp với nhau. Không phải bao giờ cũng ngắt nhịp theo ý. Có trường hợp phải ưu tiên cho nhạc.Ví dụ: Trong câu lục bát chỗ ngắt nhịp nhất thiết sẽ rơi vào sau tiếng thứ 6 của câu 8 tiếng nếu nó được gieo vần. Ví dụ: Dòng sông mặc áo Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ Dòng sông đã mặc bao giờ/ áo hoa. 4
  5. Tuy nhiên cũng không nên cứng nhắc khi dạy ngắt giọng, giáo viên phải biết rằng trong cùng một câu lại có nhiều cách ngắt giọng. Vấn đề là giáo viên nên chọn cách ngắt giọng nào cho hay hơn. Ví dụ: Thư thăm bạn “ Hôm nay đọc báo thiếu niên Tiền phong, mình rất xúc động được biết / ba của Hồng đã hy sinh trong trận lũ lụt vừa rồi.” Cách ngắt nhịp trên là đúng, nhưng cũng có thể ngắt nhịp thành: “ Hôm nay, đọc báo thiếu niên Tiền phong, mình rất xúc động/được biết ba của Hồng đã hy sinh trong trận lũ lụt vừa rồi.” 3.3. Luyện về ngữ điệu: *Cách chữa lỗi về ngữ điệu yếu: Hầu hết tất cả các bài văn xuôi hay thơ khi được đặt dấu câu ba chấm ( ) đọc đến đây chúng ta phải hạ giọng thấp hơn so với giọng đọc ban đầu. Dấu ba chấm ở đây chỉ sự ngập ngừng chưa nói hết thì phải đọc với ngữ điệu yếu. Ví dụ: Nỗi dằn vặt của An - drây - ca - Bố khó thở lắm * Cách chữa lỗi về ngữ điệu mạnh: Hầu hết các kiểu câu khiến sẽ có những điệu mạnh hoặc trong một ngữ đoạn, ngữ điệu mạnh nêu bật những từ người ta muốn nhấn mạnh,đặc biệt là lúc này ngữ điệu mạnh trùng với trọng âm. - Ví dụ: Khi đọc một đoạn trong bài: “ Đôi giày ba ta màu xanh” được đọc nhấn các từ: “ mấp máy, ngọ nguậy, tưng tưng ”. Còn những câu cảm: “ Ôi chao đôi giày mới đẹp làm sao!” được đọc với giọng trầm trồ thán phục. * Cách chữa về lỗi thể hiện ngữ điệu xuống (hạ xuống): thường dùng để kết thúc câu kể (câu thường thuật). Vì đường ranh giới câu không chỉ thể hiện ở chỗ ngừng mà còn ở ngữ điệu kết thúc đi xuống. Nếu ta không hạ gọng ở cuối mỗi câu sẽ không tạo ra sự luân chuyển nhịp nhàng cao độ của các câu. Vì vậy khi đọc chóng bị mệt và người nghe khó theo dõi. Ngoài ra, ngữ điệu xuống thường dùng để đọc lời tác giả trong những văn bản xen lẫn lời tác giả và lời nhân vật, nhất là khi lời tác giả lọt vào những lời nhân vật. * Cách chữa lỗi về lên giọng: Khi đọc câu hỏi cần phải lên giọng. - Ví dụ: Có câm mồm không? phải cao giọng ở cuối câu. Tuy nhiên những câu hỏi kết thúc về ngữ khí thì không lên giọng. - Ví dụ: Chúa đã xơi “Mầm đá” chưa ạ ? 3.4. Luyện tập về tốc độ đọc: Để chữa lỗi về thể hiện tốc độ tôi hướng dẫn: Khi đọc những văn bản có nội dung miêu tả một công việc dồn dập khẩn trương thì phải đọc nhịp nhanh. Nhưng không có nghĩa là các em phải đọc một cách liến thoắng mà đọc với tốc độ nhanh hơn bình thường để người nghe có thể theo dõi được. Ví dụ: Nỗi dằn vặt của An drây - ca “ Chơi một lúc mới nhớ lời mẹ dặn, con vội chạy một mạch đến cửa hàng/ mua thuốc/ rồi mang về nhà.” 5
  6. Khi đọc những văn bản có cảm xúc phấn khởi tự hào cần thể hiện tốc độ không quá chậm. Là một bài văn xuôi trữ tình, chan chứa cảm xúc cần phải được đọc chậm. Đọc với tốc độ chậm là chậm so với mức bình thường chứ không phải các em đọc chậm từng tiếng một,sẽ làm cho người nghe hiểu sai về nội dung văn bản. 3.5. Luyện tập về cường độ: Tôi đã phải tập cho tất cả học sinh trong lớp mình có thói quen đọc đúng cường độ nghĩa là phải đọc đủ lớn để cho cả lớp và cô giáo có thể nghe được. Tôi giáo dục cho học sinh hiểu được tác hại của việc đọc quá nhỏ, cô và các bạn sẽ không theo dõi được, mà không theo dõi được thì không thể sửa sai cách đọc cho chúng ta được. 3.6. Luyện tập về cao độ: Như đã nêu ở phần cách chữa lỗi về ngữ điệu ở mỗi loại kiểu câu lại có một ngữ điệu lên, xuống khác nhau. Tuy nhiên vẫn tồn tại trường hợp ngoại lệ. - Ví dụ: Có câu hỏi nhưng khi đọc không cần lên giọng ở cuối câu. Chẳng hạn khi đọc: “Bầm ơi, có rét không Bầm?” Đây là kiểu câu hỏi nhưng khi đọc ta không lên giọng ở cuối câu mà lại hạ giọng ở cuối câu. Vì đây là câu hỏi thể hiện sự trăn trở của người con nơi chiến trận đang nghĩ về người mẹ yêu quý của mình, một câu hỏi không cần có câu trả lời. Như vậy tùy thuộc vào từng văn bản cụ thể mà hướng dẫn học sinh thể hiện đúng cao độ. * Trên đây là các bước luyện đọc đúng, đọc lưu loát văn bản. Giải pháp 4: Luyện đọc diễn cảm: 4.1. Cung cấp mẫu : giúp học sinh tri giác các chỉ số âm thanh của bài đọc một cách cụ thể, từ đó có ý thức luyện tập theo mẫu. Để thực hiện tốt bước này, cần tuân thủ các yêu cầu: giọng đọc mẫu thể hiện chính xác các chỉ số âm thanh, phù hợp với nội dung bài đọc, phô diễn được cảm xúc mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc một cách sáng tạo. Trong thực tế, chúng ta thường đọc mẫu. Tuy nhiên, để tăng hứng thú cho học sinh trong giờ học, chúng ta cần thể hiện mẫu bằng nhiều đối tượng hoặc phương tiện khác nhau (GV / HS khá giỏi / băng hình, băng tiếng, .... ) Khi đọc mẫu hoặc cung cấp mẫu, chúng ta lưu ý vị trí thích hợp để cả lớp theo dõi, quan sát mẫu tốt; cần tạo không khí học tập, tâm thế cho học sinh trước khi đọc mẫu (thái độ của học sinh biết chờ đợi nghe giọng đọc mẫu, im lặng, trật tự,...). 4.2. Phân tích các chỉ số âm thanh của giọng đọc mẫu : giúp học sinh hiểu rõ các yêu cầu trong giọng đọc mẫu một cách có ý thức, từ đó tránh bắt chước giọng đọc mẫu một cách máy móc. Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của học sinh và nội dung dạy học (thuộc bình diện ngữ âm - cái biểu hiện của ngôn ngữ), chúng ta lưu ý phân tích các chỉ số âm thanh kết hợp việc thể hiện giọng đọc để việc phân tích giúp học sinh hình dung cách đọc một cách cụ thể; cách phân tích cần dễ hiểu, không dùng thuật ngữ ngôn 6
  7. ngữ học nhằm phù hợp với nhận thức mang tính trực quan, cụ thể của học sinh. Khi phân tích, tôi tránh hiện tượng áp đặt, nên hé mở định hướng để học sinh có ý thức tái tạo giọng đọc theo cảm xúc của bản thân một cách tốt nhất. Chúng ta cần quy định hệ thống kí hiệu đánh dấu các chỉ số âm thanh cụ thể của bài đọc (lên giọng, xuống giọng, nhấn giọng,...). Trong thực tế, tôi thường sử dụng hệ thống kí hiệu sau: / : chỗ ngắt giọng, // : chỗ ngừng giọng, : chỗ lên giọng, :: chỗ xuống giọng, = = = : chỗ đọc chậm, === : chỗ đọc nhanh, X : chỗ nhấn giọng,... ; nên chọn đoạn tiêu biểu - chứa các trường hợp khó đọc hoặc thể hiện cảm xúc, tư tưởng cao của tác phẩm. Ví dụ: Bài ‘‘Hoa học trò’’ nên chọn đoạn ‘‘ Phượng không phải là một đóa. . . đậu khít nhau’’ vì đoạn này chứa nhiều câu có ngữ điệu khác nhau, chứa nhiều từ biểu cảm cần nhấn giọng . . . Khi phân tích, tôi tổ chức lớp học bằng nhiều hình thức khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể lớp,... và nên phân công các nhóm, các cá nhân từng nội dung cụ thể để đảm bảo thời gian bài học, giờ học (trở lại ví dụ trên, chúng ta nên chia lớp thành các nhóm, yêu cầu từng nhóm thực hiện các nhiệm vụ khác nhau : ví dụ trên có thể phân chia : nhóm 1 : xác định cách ngắt nhịp / phát hiện, đánh dấu các từ ngữ cần nhấn giọng, lên giọng, xuống giọng,....; nhóm 2 : xác định tốc độ đọc câu; để có cơ sở khoa học, việc phân tích cần gắn với việc tìm hiểu bài đọc (gắn với các câu hỏi: Vì sao tốc độ giọng đọc phải nhanh / chậm ? ...) 4.3. Luyện theo giọng đọc mẫu : giúp học sinh rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm theo định hướng của mẫu. Bước này chiếm nhiều thời gian và được xem là trọng tâm của biện pháp luyện đọc theo mẫu. Cường độ luyện tập ở bước này cao giúp học sinh ghi nhớ và vận dụng tốt mẫu đã được nghe và phân tích. Để tránh nhàm chán đối với học sinh khi phải luyện tập nhiều, hình thức luyện tập cần phong phú (cá nhân, nhóm, thi đọc, đọc nối tiếp,...). Khi luyện tập cần bảo đảm thời gian của giờ học, mục tiêu của bài học. Thực hiện bước này bằng các thao tác cơ bản : chọn hình thức tổ chức luyện tập (cá nhân/ nhóm / tập thể); giao nội dung luyện tập; tổ chức luyện tập. 4.4. Nhận xét, sửa chữa, điều chỉnh, khái quát hóa về cách đọc của bài đọc : Việc làm này giúp học sinh điều chỉnh, sửa chữa, ý thức sâu sắc về cách đọc diễn cảm bài đọc. Trong thực tế, bước này thường kết hợp với bước 3; chúng ta nên tổ chức nhận xét điều chỉnh theo nhóm hoặc tập thể lớp. Cách thức thực hiện bước này thường là: tổ chức nhận xét, điều chỉnh; khái quát về yêu cầu bài đọc. Việc phân tích các bước trong quy trình sử dụng phương pháp luyện theo mẫu khi vận dụng vào qúa trình luyện đọc diễn cảm ở trên cho thấy, tôi không chỉ sử dụng phương pháp luyện theo mẫu một cách thuần túy mà đã linh hoạt kết hợp nhiều phương pháp khác (bước 2 đã vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp thực hành giao tiếp ,... ). Đối với học sinh lớp 4, tôi đã quan tâm bước 2, nếu làm tốt bước 2 sẽ tác động lớn đến kết quả luyện đọc của học sinh. Điều khó khăn của việc sử dụng phương pháp luyện theo mẫu trong quá 7
  8. trình luyện đọc diễn cảm là chuyển hóa kết quả tri giác từ mẫu (chất liệu âm thanh ngôn ngữ nghệ thuật) thành giọng đọc diễn cảm, vừa có tính tái tạo, vừa có tính sáng tạo của chính bản thân học sinh. Do vậy, bản thân muốn chia sẻ những kinh nghiệm về việc vận dụng phương pháp luyện theo mẫu trong luyện đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4. Giải pháp 5: Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học mới vào rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 Ở phần luyện đọc diễn cảm tôi tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm để các em tìm ra cách ngắt nghỉ, giọng đọc, cách đọc diễn cảm sau đó học sinh tự luyện đọc trong nhóm và sửa cho bạn. Sau khi học sinh luyện tốt trong nhóm, đại diện nhóm sẽ thể hiện trước lớp, các nhóm khác sẽ nhận xét bổ sung. Như vậy với việc tổ chức hoạt động nhóm học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức, giáo viên chỉ giúp đỡ khi còn vấn đề mà các em học sinh chưa thống nhất được. Tùy vào nội dung bài mà tôi có thể lựa chọn phương pháp học theo nhóm đôi, nhóm bốn,.... cho phù hợp. Ví dụ: Bài :" Đôi giày ba ta màu xanh" Phần luyện đọc diễn cảm,tôi sẽ chia lớp theo nhóm 4, cho học sinh tự tìm cách đọc diễn cảm từng đoạn , cả bài . \ §o¹n 1: §äc giäng kÓ nhÑ nhµng , thÓ hiÖn ®­îc ­íc m¬ cña t¸c gi¶ . NhÊn giäng vµo c¸c tõ : Chao «i , ®Ñp lµm sao, «m s¸t , thon th¶ \ §o¹n 2: Giäng nhanh, vui h¬n khi thÓ hiÖn niÒm xóc ®éng, vui s­íng kh«n t¶ cña cËu bÐ Lái khi ®­îc tÆng ®«i giµy. NhÊn giäng ë tõ gîi t¶ gîi t¶: ngÈn ng¬, run run, mÊp m¸y, ngä nguËy, cét, ®eo vµo cæ, t­ng t­ng \ Cả bài : Giọng kể chậm rãi, nhẹ nhàng.Giọng của Lái ở đoạn 2 vui hơn khi ước mơ thỏa nguyện. Sau đó học sinh đọc trong nhóm. Học sinh khác lắng nghe và nhận xét sửa sai cho bạn.Giáo viên sẽ đi đến từng nhóm xem học sinh đọc và hỗ trợ nếu cần. Sau đó gọi đại diện nhóm đọc trước lớp.Các bạn trong lớp nghe , bình chọn bạn đọc hay nhất.Lưu ý phải đảm bảo tất cả học sinh được luyện đọc, giáo viên chú ý tương tác giữa thầy và trò, trò và trò. Khi vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào phần luyện đọc diễn cảm tôi nhận thấy các em đọc tiến bộ một cách rõ rệt. Các em được luyện đọc nhiều. Nhiều em đã đọc to, đọc lưu loát, biết ngắt nghỉ hơi hợp lí, biết nhấn giọng vào các từ ngữ gợi tả ... Học sinh biết phân biệt lời kể và lời nói của nhân vật, đọc đúng các tên riêng nước ngoài. Để thay đổi hình thức tạo ra sự hứng thú với học sinh ngoài việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, tôi thường xuyên vận dụng phương pháp đọc phân vai. Tùy nội dung từng bài mà tôi lựa chọn áp dụng phương pháp này,nhằm khơi gợi cho học sinh sự tò mò, chủ động tự tìm ra cách đọc, sau đó nhập vai thể hiện. Ví dụ : Trong quán ăn “Ba cá bống” - 4 Học sinh đọc phân vai: \ Người dẫn chuyện \ Ba-ra-ba \ Bu-ra-ti-nô \ Cáo A-li-xa 8
  9. - Lời người dẫn chuyện phần đầu đọc chậm rãi, phần sau đọc nhanh hơn,đầy bất ngờ, li kì. - Lời Bu-ra-ti-nô: thét, dọa nạt. - Lời lão Ba-ra-ba:lúc đầu hùng hổ, sau ấp úng khiếp đảm. - Lời cáo A-li-xa: chậm rãi, ranh mãnh. Nhấn giọng vào các từ ngữ : im thin thít, tống , sợ tái xanh, cầm cập, ấp úng, mười đồng tiền vàng, nộp ngay, đếm đi đếm lại, thở dài, lổm ngổm, há hốc III.2. Tính mới, tính sáng tạo 1. Tính mới Để có được những giờ học Tiếng Việt đạt hiệu quả. Mỗi người giáo viên cần phải lựa chọn các phương pháp hình thức dạy học phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của lớp mình. Trong quá trình nghiên cứu của mình tôi luôn vận dụng những phương pháp dạy học phù hợp nhất. Một trong các phương pháp lựa chọn đó là thảo luận nhóm, cá nhân, thi đọc, đọc nối tiếp, đọc phân vai... Trong giờ tập đọc không còn việc giáo viên áp đặt. Học sinh được luyện đọc nhiều hơn trong nhóm, có kỹ năng nghe, nhận xét và sửa sai để hoàn thiện năng lực của bản thân, giúp bạn tiến bộ. Kỹ năng đọc diễn cảm của học sinh được cải thiện rõ rệt, lớp học không còn không khí nặng nề, trầm lắng trở nên sôi nổi và hào hứng. Việc đọc trong nhóm trở nên rất linh hoạt, nhóm 2, nhóm 4 bản thân các em tự tìm ra vấn đề khó với mình và tự luyện đọc trong nhóm, được các bạn góp ý chỉnh sửa để tiến bộ. Ở phần luyện đọc diễn cảm, học sinh tự cảm nhận và đọc trong nhóm, không có sự áp đặt của giáo viên mà chỉ có sự tư vấn. Học sinh được phát huy năng lực cảm thụ văn học. Khi học sinh hợp tác với nhau trong nhóm rèn cho các em thói quen làm việc theo nhóm,có tác phong nhanh nhẹn,tinh thần đoàn kết nhất trí cao đặc biệt khả năng giao tiếp, tự tin trình bày ý kiến được cải thiện một cách rõ rệt. 2.Tính sáng tạo Với những biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh mà tôi đã áp dụng và đạt được kết quả khả quan, tôi thấy rằng để đạt được hiệu quả giờ lên lớp, học sinh đọc hay, đọc diễn cảm thì trước hết người giáo viên phải đọc diễn cảm. Bản thân mỗi giáo viên phải tích cực khắc phục những hạn chế về kĩ năng đọc của mình, thường xuyên luyện đọc diễn cảm để hướng dẫn học sinh đọc tốt. Khi dạy đọc cho học sinh, ta phải hết sức chú ý việc chữa lỗi phát âm cho học sinh, về cách ngắt giọng, về ngữ điệu, tốc độ đọc, cường độ, cao độ,... III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng Một số giáo viên trường Tiểu học Trường Thọ trong năm học 2022 - 2023 cũng cùng chia sẻ và áp dụng giải pháp này vào môn Tiếng Việt tại lớp của mình để giảng dạy, chất lượng môn Tiếng Việt đã được nâng cao một cách tích cực. Kết quả cho thấy học sinh có khả năng đọc diễn cảm của các em tốt hơn đầu năm học rất nhiều. Các em không chỉ đọc to, đọc đúng mà còn đọc hay. Điều này thể hiện trong bảng số liệu dưới đây: 9
  10. Môn Tập đọc của lớp 4A Trường Tiểu học Trường Thọ Đầu năm Cuối học kì 1 Đọc đúng Đọc hiểu Đọc diễn Đọc đúng Đọc hiểu Đọc diễn cảm cảm Tốt Đạt CĐ Tốt Đạt CĐ Tốt Đạt CĐ Tốt Đạt CĐ Tốt Đạt CĐ Tốt Đạt CĐ 12 17 2 10 19 2 8 12 11 27 4 0 26 5 0 25 6 0 Như vậy tôi thấy biện pháp này không chỉ khả thi với lớp 4 của tôi mà có thể áp dụng có hiệu quả cao cho tất các cả lớp trường tôi nói riêng và tất cả cá c trường Tiểu học nói chung và nếu kiên trì thực hiện chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng việt nói chung và môn tập đọc nói riêng. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến a. Hiệu quả kinh tế Giải pháp tôi đưa ra hoàn toàn không tốn kém về mặt kinh tế nhưng đem lại hiệu quả thiết thực.Việc sử dụng một số biện pháp rèn đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 đã giúp các em có kỹ năng cảm thụ tốt nội dung bài, từ đó trau dồi vốn hiểu biết, lòng yêu quê hương đất nước con người Việt Nam. b. Hiệu quả xã hội Phân môn Tập đọc trong Tiếng Việt là một trong những phân môn quan trọng bởi có đọc tốt thì mới học tốt Tiếng Việt.Thông qua đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm học sinh cảm thụ được cái hay cái đẹp của bài văn, bài thơ. Nó là chìa khoá đưa các em vào kho tàng văn hoá, khoa học, giúp các em nhận ra những tinh hoa của dân tộc đang được tàng trữ trong sách vở. Qua các bài tập đọc các em còn được đọc theo vai thì mới diễn tả cảm xúc, tình cảm, thái độ bộc lộ qua từng nhân vật trong tác phẩm hình thành cá tính riêng. Các em biết yêu các đẹp, biết bảo vệ sự chính nghĩa,... và ghét sự bất công trong xã hội. c. Giá trị làm lợi khác Sau khi đã áp dụng giải pháp nêu trên vào rèn đọc diễn cảm cho học sinh, tôi nhận thấy việc giảng dạy phân môn Tập đọc của mình đạt kết quả khá tốt. Các em có kỹ năng đọc to, đọc diễn cảm khá tốt. Nếu như trước đây kĩ năng đọc diễn cảm ở các em rất kém thì bây giờ khi đọc đoạn văn, bài văn, bài các em đã dần cảm thụ được nội dung của bài, đọc hay hơn, diễn cảm hơn. Các em không ngại khi đọc trong nhóm, đọc diễn cảm, đọc phân vai hay đứng lên nhận xét, chia sẻ với bạn bè... Do đó các em hứng thú say mê yêu văn học, yêu thích học tiếng Việt hơn, kĩ năng viết cũng nhanh hơn, đúng chính tả hơn. Đặc biệt các em còn biết liên hệ vận dụng khi viết văn . CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG Trường Thọ, ngày 5 tháng 12 năm 2022 SÁNG KIẾN Tác giả Nguyễn Thị Luyến 10