Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp phát triển khả năng ngôn ngữ “đọc – viết” cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp phát triển khả năng ngôn ngữ “đọc – viết” cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_phat_trien_kha_nang_ngon_ngu.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp phát triển khả năng ngôn ngữ “đọc – viết” cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số
- Đề tài: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGÔN NGỮ “ĐỌC – VIẾT” CHO TRẺ MẦM NON VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Lý do chọn đề tài Khả năng đọc, viết là một yếu tố quan trọng trong năng lực của mỗi học sinh, đó là cơ sở để học sinh lĩnh hội tri thức và kinh nghiệm sống. Trường Mầm non không có nhiệm vụ dạy trẻ “đọc, viết” nhưng chúng ta cần chuẩn bị và phát triển khả năng tiền đọc, tiền viết cho trẻ. Cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi làm quen với việc nói, đọc – viết không chỉ nhằm giúp trẻ biết được các mặt chữ cái để phát âm chính xác khi nói mà còn tạo cho trẻ hứng thú học tiếng mẹ đẻ, làm tiền đề cho trẻ thích ứng với việc đọc, viết ở lớp một. Đồng thời chúng ta cũng có thể khẳng định rằng: “đọc – viết” chính là một hình thức của giao tiếp. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, đồng thời với kinh nghiệm nhiều năm công tác, giảng dạy và quản lý cùng với thực trạng 100% trẻ là con em vùng dân tộc thiểu số. Bản thân tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và tìm tòi các biện pháp mới để giúp giáo viên và trẻ 5-6 tuổi trong nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tăng cường sự trải nghiệm; phát triển vốn từ, nhận biết, phát âm và tập tô 29 chữ cái; phát huy tính tích cực ở trẻ, phát triển khả năng tiền đọc, tiền viết cho trẻ nói riêng và các phẩm chất, năng lực khác của trẻ nói chung. Chính vì vậy tôi đã lựa chọn “Biện pháp phát triển khả năng ngôn ngữ “đọc – viết” cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số”. 2. Phạm vi và thời gian áp dụng Biện pháp này tôi đã nghiên cứu từ tháng 8 năm 2022, bắt đầu đưa vào áp dụng từ tháng 9 năm 2022 đối với trẻ 100 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và giáo viên lớp A1, A2, A4, A7, A9 tại trường MN Nậm Mòn 3. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến Qua thời gian nghiên cứu đề tài này và khảo sát thực trạng , bản thân tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau: 3.1. Thuận lợi Trong những năm học qua luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Phòng GD&ĐT, được Phòng tổ chức tập huấn về chuyên đề này cũng như rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện.
- 2 Cơ sở vật chất đầy đủ, môi trường học tập rộng rãi, thoáng mát đáp ứng nhu cầu học tập cho trẻ. Bản thân tôi và đội ngũ giáo viên trong nhà trường có trình độ chuyên môn đạt chuẩn; luôn tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ và chịu khó học hỏi; nghiên cứu các vấn đề mới. Trẻ thích những điều mới lạ và cũng ham học hỏi. 3.2. Khó khăn: Trẻ 99% là con em dân tộc thiểu số, chủ yếu các dân tộc Mông, Nùng, Tày, Dao, vốn từ tiếng Việt chưa phong phú. Trẻ nói ngọng, phát âm không chuẩn. Trẻ còn tự ti, chưa mạnh dạn trong giao tiếp và thể hiện bản thân. Dẫn đến việc phát triển khả năng ngôn ngữ nói, “đọc – viết” còn gặp nhiều khó khăn, trẻ chủ yếu chỉ nhận biết chữ in thường. Môi trường chữ viết cho trẻ hoạt động còn nghèo nàn, cơ bản là chữ in thường và chưa được thay đổi thường xuyên. Có những tuýp chữ để từ đầu năm đến cuối năm. Vẫn còn một số ít phụ huynh đi làm ăn xa và chưa thực sự quan tâm, vẫn còn coi nhẹ việc học tập và phát triển khả năng nói, tiền đọc, tiền viết cho trẻ. 3.3. Kết quả khảo sát thực trạng đầu năm Khảo sát lần 1 vào ngày 10/9/2022: Tổng số trẻ: 100 trẻ 5 tuổi; tổng số giáo viên là 10 giáo viên các lớp A1, A2, A4, A7, A9 Kết quả cụ thể như sau: Mức độ tiêu chí Tổng Đạt Chưa đạt số Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượng % lượng % 1. Học sinh Trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái tiếng 100 44 44 56 56 Việt Trẻ nhận biết chữ cái trong từ và ghép đúng 100 28 28 72 72 các chữ thành từ. Trẻ nhận biết chữ in hoa, in thường, viết 100 17 17 83 83 thường Trẻ tô chữ in mờ, in rỗng và tri giác chữ 100 30 30 70 70
- 3 đúng chiều Biết cầm sách, mở sách ra xem và quy trình 100 40 40 60 60 “đọc” 2. Giáo viên Giáo viên linh hoạt, tăng cường ứng dụng 10 5 50 5 50 các phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động giáo dục “đọc-viết” cho trẻ. Xây dựng môi trường “đọc-viết” cho trẻ 10 6 60 4 40 hoạt động đạt hiệu quả cao. 4. Những giải pháp, biện pháp áp dụng thực hiện sáng kiến Từ thực trạng trên, tôi đã đề ra một số giải pháp cơ bản chỉ đạo giáo viên, học sinh như sau: 4.1. Tập huấn, mở hội thảo về chuyên đề. Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng của chuyên đề đồng thời chỉ đạo giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong quá trình giảng dạy. Khả năng nói, phát âm, tiền đọc, tiền viết là những sự cố gắng, nỗ lực của trẻ. Thậm chí chỉ là những nét vẽ nguệch ngoạc, những bài tô vẽ chữ in mờ, theo mẫu hay “đọc vẹt” một cuốn sách nào đó .Nhưng chúng mang ý nghĩa đặc biệt với trẻ nhỏ. Chính vì điều này, yêu cầu người giáo viên phải cực kỳ linh hoạt và khéo léo. Do đó nhà trường đã tổ chức các lớp tập huấn để nâng cao nhận thức cho giáo viên, nâng cao các kỹ năng, các phương pháp giáo dục để phát triển khả năng “đọc – viết” cho trẻ một cách bài bản và hiệu quả. Đồng thời tổ chức các buổi hội thảo về việc giảng dạy cũng như các nguyên tắc xây dựng môi trường chữ viết để giáo viên có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi và giao lưu với nhau. Bên cạnh đó nhà trường cũng phát huy vai trò của tổ trưởng, phân hiệu trưởng trong việc hỗ trợ giáo viên giảng dạy và xây dựng môi trường. Lựa chọn lớp điểm, phân hiệu điểm cho giáo viên học tập theo. Tập huấn chuyên môn đầu năm Tổ chức cho 100% giáo viên tham gia sinh hoạt chuyên đề “Cho trẻ 5-6 tuổi quen với “đọc - viết””. Lựa chọn, xây dựng 01 lớp điểm về chuyên đề này. Tổ chức hoạt động mẫu để giáo viên được chia sẻ, thảo luận xem làm như thế nào để đạt
- 4 được mục tiêu giáo dục... Như vậy, giáo viên sẽ được tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện tại lớp mình và giúp cho giáo viên nắm rõ phương pháp, hình thức tổ chức linh hoạt, sáng tạo hơn. Từ đó được rút kinh nghiệm chung, thống nhất và định hướng áp dụng tại các lớp một cách thiết thực và linh hoạt giúp cho cán bộ, giáo viên triển khai thực hiện chuyên đề có hiệu quả hơn Hội thảo chuyên đề 4.2. Tạo môi trường chữ viết xung quanh trẻ; chuẩn bị học liệu phong phú để kích thích sự hứng thú, tính tò mò, khám phá của trẻ. Chúng ta có thể khẳng định, dù cô giáo có linh hoạt đến đâu, trẻ có ham học hỏi cỡ nào nhưng không có không gian, không có môi trường cho trẻ hoạt động thì hiệu quả sẽ không đạt được tối đa. Do đó, việc tạo dựng môi trường chữ viết xung quanh cho trẻ hoạt động là cực kỳ quan trọng; đây là tiền đề, là một trong những yếu tố cơ bản để thu hút, kích thích sự hứng thú, tính tò mò, khám phá của trẻ. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học, tôi đã làm tốt công tác tham mưu với nhà trường và chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động, bao gồm môi trường trong lớp và môi trường ngoài lớp học. Hàng ngày, các cô phải tổ chức cho trẻ tiếp xúc nhiều với chữ viết, tạo nên tính thân thuộc, gần gũi. Ví dụ: Trang trí chữ viết lên các giá, kệ ở các góc, tên của trẻ trên các vật dụng cá nhân, gắn tên cây cối, đồ dùng, đồ chơi ở cả trong và ngoài lớp học. Các bài thơ, ca dao, đồng dao, các thành ngữ đơn giản kèm với hình ảnh, để trẻ được “tắm mình” trong môi trường ngôn ngữ tiếng Việt. Để phát huy hiệu quả các cô giáo cần trang trí môi trường chữ với nhiều màu sắc, đa dạng phong phú các kiểu chữ to, nhỏ, kiểu dáng khác nhau. Hay với các góc khác cũng vậy, cô và trẻ cùng đàm thoại, thoải mái trao đổi để đặt tên như đối với góc xây dựng: “Kiến trúc sư tí hon”; “Bé tập làm thợ xây”; “Ngôi nhà mơ ước”; “Thị trấn tương lai”. Môi trường trong lớp học Ngoài ra nhà trường cần đầu tư kinh phí vào các biểu bảng trang trí môi trường chữ bên ngoài sân trường để tạo môi trường học tập cho trẻ. Xây dựng góc thư viện trong và ngoài lớp học phong phú, đa dạng đầu sách; được sắp xếp và thay đổi linh hoạt tạo hứng thú và thu hút trẻ tham gia. Thực hiện sưu tầm thêm các loại sách khổ to, chữ to, các sản phẩm của trẻ sau khi học và chơi, Các trang thiết bị đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động phát triển ngôn ngữ
- 5 như: thẻ từ, bảng chữ cái, băng đĩa, cát xét. Các tác phẩm văn học thiếu nhi phù hợp với khả năng của trẻ, các tác phẩm văn học: truyện, thơ, ca dao, đồng dao... Từ đó, trẻ sẽ tích cực khám phá, sử dụng, hình thành thói quen đọc sách.Trẻ có thể đọc đi đọc lại nhiều lần cuốn sách mà chúng yêu thích bởi chúng thích thú với câu chuyện và đặc biệt thích đọc sách với người lớn. Ngoài ra giáo viên thực hiện tốt góc “Thông tin dành cho cha mẹ”. Thực hiện tuyên truyền đến các bậc phụ huynh về các nội dung cần rèn cho các cháu, kĩ năng “đọc” “viết”. Ví dụ: cách dạy trẻ nhận biết phát âm chữ cái mà con em mình đang học, phối kết hợp ôn luyện tại gia đình, tránh trường hợp cô dạy chữ đúng phụ huynh lại dạy chữ chưa đúng như: Chuẩn bị các học liệu phong phú, khuyến khích các học liệu từ thiên nhiên cho trẻ hoạt động Môi trường bên ngoài lớp học Môi trường bên ngoài lớp học Môi trường bên ngoài lớp học Môi trường bên ngoài lớp học Các kiểu chữ, cỡ chữ khác nhau Môi trường bên ngoài lớp học 4.3. Thu hút sự tham gia của trẻ trong việc tạo dựng môi trường nhằm cho trẻ được trải nghiệm và phát huy tính tích cực của trẻ. Để trẻ được trải nghiệm nhiều hơn và phát huy tính tích cực của trẻ đồng thời đem lại cho trẻ nhiều kinh nghiệm sống. Tôi chỉ đạo giáo viên không chỉ tập trung tạo dựng môi trường sau đó mới cho trẻ hoạt động mà chúng ta nên khuyến khích, thu hút trẻ tham gia cùng cô tạo dựng môi trường. Chúng ta để trẻ được làm những công việc vừa sức, khuyến khích sự sáng tạo của trẻ, để trẻ được nghịch, được chơi, được sáng tạo thoải mái .Đặc biệt chúng ta không sợ trẻ bẩn hay làm hỏng .Như vậy, sẽ thu hút được trẻ, trẻ sẽ tự hào và trân trọng môi trường xung quanh, đồng thời tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm cho trẻ. Qua biện pháp này, tôi thấy hiệu quả đạt được rất tốt. Sự tương tác, hợp tác của cô và trẻ , giữa trẻ với trẻ rất ăn ý, thường xuyên trò chuyện, khuyến khích trẻ
- 6 nói và nói cho trẻ nghe. Bởi không gì phát triển nhanh chóng tích cực bằng việc thường xuyên cho trẻ nghe, cho trẻ nói. Nên để phát triển khả năng “đọc-viết”của trẻ hiệu quả trước hết người giáo viên phải phát triển khả năng nghe, nói của trẻ. Tạo cơ hội để trẻ được nghe các âm thanh khác nhau từ môi trường. Ví dụ: Tiếng kêu của động vật, âm thanh của phương tiện giao thông, âm thanh đồ vật, âm thanh của một số hiện tượng tự nhiên, âm thanh của các lễ hội...Bởi vì các âm thanh khác nhau ấy sẽ có tác dụng kích thích thính giác các giác quan cuả trẻ rất lớn. Cho trẻ làm quen với “đọc”, “đọc” được tên của mình, “đọc” được các chữ trong quá trình cùng cô tạo dựng môi trường.... Trẻ làm đồ dùng cùng thầy cô Trẻ chăm sóc rau, hoa tạo môi trường bên ngoài 4.4. Thiết lập các trò chơi cho trẻ làm quen chữ cái. Tăng cường cho trẻ ứng dụng công nghệ thông tin trong khi tham gia chơi. Trò chơi với chữ cái rất đa dạng, đặc biệt thông qua các trò chơi giúp trẻ thấy được mối quan hệ giữa các chữ cái, trẻ hiểu các chữ cái được ghép lại thành từ và các từ ghép lại sẽ thành câu, khi đọc lên chúng có ý nghĩa đồng thời phát triển khả năng nói, giao tiếp, phát âm giúp trẻ thích ứng với việc “đọc, viết”. Chính vì vậy tôi đã thiết kế một số trò chơi mới, dễ nhớ, dễ chơi, bao gồm cả các trò chơi học tập, trò chơi vận động, chơi trong tiết học và chơi mọi lúc mọi nơi được. Ví dụ: Trò chơi xếp hình chữ, lắp ráp các khối hình có in chữ, đóng dấu chữ, nặn chữ viết bằng bột mì, cho trẻ nhúng ngón tay vào màu nước rồi viết chữ, làm sách bằng cách cắt dán chữ trong tạp chí, họa báo, tìm từ có chứa chữ cái, sao chép từ, vòng quay kỳ diệu..... Thông qua các trò chơi trên trẻ nhận biết được mặt chữ, biết thứ tự chữ cái trong từ và biết cách phát âm chữ cái – từ trọn vẹn. Ví dụ đối với trò chơi “Sao chép từ” cô chuẩn bị tranh có từ mẫu và các thẻ chữ rời; cô cho trẻ tri giác các bức tranh và phát âm các từ dưới tranh, tách các chữ trong từ và phát âm từng chữ, sau đó ghép thành từ hoàn chỉnh giống trong bức tranh. Qua trò chơi này trẻ nhận biết các từ hoàn chỉnh, các chữ cái có trong từ và thứ tự các chữ cái đó giúp trẻ ghi nhớ từ lâu hơn. Đồng thời phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin cho trẻ thông qua một số trò chơi thiết kế trên máy tính. Để rèn luyện cơ tay thuận tiện cho việc tô, viết của trẻ có thể tổ chức cho trẻ tô, vẽ theo trí tưởng tượng và tạo thành quyển truyện của trẻ. Từ đó thúc đẩy trẻ đọc, kể chuyện theo trí tưởng tượng giúp trẻ hình thành thói quen giở sách.
- 7 Khi thiết kế các trò chơi này tôi hướng dẫn cho giáo viên cách tổ chức cho trẻ chơi đạt hiệu quả thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ, hoặc trực tuyến trên nhóm chuyên môn của nhà trường. Giáo viên tổ chức cho trẻ làm quen với chữ cái qua các trò chơi, thẻ chữ cái, tìm chữ cái trong từ , ghép chữ còn thiếu trong từ, cho trẻ Đồng thời trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo viên giúp trẻ nắm được cách sử dụng công cụ viết như: bút chì, bút lông, phấn . Biết được hướng viết tiếng Việt, hướng viết của nét chữ, mối quan hệ giữa tiếng nói và viết; cách cầm và sử dụng công cụ viết, cho trẻ vẽ trên sàn, sân, bảng bằng phấn, vẽ trên cát, vẽ bằng que, , tô màu tranh, vẽ tự do trên giấy, trang trí đường diềm bằng bút sáp, bút dạ để rèn luyện vận động của các cơ nhỏ, sự khéo léo của ngón tay, sự phối hợp tay mắt, giúp trẻ làm quen với cách sử dụng giấy, bút, biết cách cầm bút đúng và giữ giấy khi tô, vẽ, “viết”. * Tích hợp lựa chọn các thẻ EL, EM phù hợp với hoạt động, phù hợp với trẻ: Trong cuốn 4 Cuốn thẻ hoạt động cho giáo viên gồm 120 hoạt động/trò chơi (60 thẻ cho hoạt động làm quen với đọc viết và 60 thẻ cho hoạt động làm quen với toán) các hoạt động, trò chơi đơn giản, vui nhộn nhưng để áp dụng các thẻ này đạt hiệu quả cao nhất thì bản thân tôi phải tìm hiểu nghiên cứu lựa chọn các thẻ hoạt động này để tích hợp vào từng nội dung hoạt động hằng ngày, từng chủ đề trong năm học đảm bảo mục tiêu giáo dục trẻ mầm non, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý sở thích, khả năng của trẻ, đặc điểm cơ sở vật chất của nhóm lớp. Lên kế hoạch, sắp xếp lựa chọn 120 thẻ hoạt động này vào trong 10 chủ đề năm học. Lựa chọn các trò chơi chữ cái, phát triển ngôn ngữ đọc viết, hướng dẫn giáo viên tổ chức cho trẻ. VD: Tích hợp thẻ EL 42 “Thẻ vào lớp” tôi đã chuẩn bị các mảnh giấy đã được viết tên của trẻ, đặt những chiếc thẻ vào 1 chiếc bàn trước cửa lớp sau đó buổi sáng khi trẻ đến giúp trẻ tìm tên của trẻ rồi trẻ sẽ dùng bút dạ có màu khác viết lại 1 chữ cái mà trẻ yêu thích ở thẻ tên của trẻ cho trẻ phát âm chữ cái đó.. Đối với hoạt động phát triển ngôn ngữ, cho trẻ làm quen với chữ cái o, ô, ơ. Trong hoạt động củng cố tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi EL 28 “Trò chơi nhảy vào ô chữ” tôi chuẩn bị 3 ô có chứa 3 chữ cái o, ô, ơ trên sàn nhà khi có hiệu lệnh “nhảy” trẻ sẽ nhảy lần lượt vào từng ô có chứa chữ cái và hô thật to tên chữ cái mà trẻ nhảy vào. Trong quá trình chơi cô thay đổi chữ cái ở các ô để trẻ hô không lặp lại theo trí nhớ.
- 8 Sau khi thực hiện biện pháp này thì bản thân tôi trong quá trình lựa chọn và sử dụng các thẻ hoạt động thì linh hoạt, khoa học, phát huy được tối đa sự sáng tạo của trẻ vào hoạt động. Phù hợp với nhiều hoạt động như hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trơi, hoạt động học đặc biệt giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, chữ cái, chữ viết. 4.5. Nêu cao vai trò của phụ huynh trong việc phát triển khả năng nói, “đọc – viết” của trẻ. “Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu sự giáo dục trong gia đình và xã hội thì kết quả không đạt được tối đa”. Như vậy, để việc giáo dục trẻ đem lại hiệu quả cao thì công tác phối hợp với phụ huynh đóng 1 vai trò hết sức quan trọng. Tôi chỉ đạo giáo viên thông qua những lúc đón, trả trẻ những buổi họp phụ huynh, họp thôn giáo viên trao đổi, tuyên truyền về tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ “đọc-viết”. Mời phụ huynh cùng tham gia một số hoạt động giáo dục, chương trình sự kiện của lớp và nhà trường, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ. Từ đó nâng cao nhận thức của phụ huynh, khi phụ huynh hiểu được ý nghĩa của hoạt động này thì sẽ phối hợp trong việc đi học chuyên cần của trẻ, sẽ tạo điều kiện cho con học tập và đặc biệt là củng cố và bồi dưỡng cho con khi ở nhà. Chỉ đạo giáo viên góc “Thông tin dành cho cha mẹ trẻ” có một mảng dành riêng để trao đổi về ngôn ngữ của trẻ, kế hoạch hoạt động, chủ đề, chủ điểm . Đồng thời vận động phụ huynh thường xuyên sử dụng tiếng Việt để trò chuyên, giao tiếp hàng ngày với trẻ, để vốn tiếng Việt của trẻ ngày càng mở rộng, giúp trẻ phát âm chuẩn và rõ ràng hơn. Tuyên truyền cha mẹ trẻ cùng phối kết hợp với nhà trường tạo dựng môi trường học tập cho trẻ. Sưu tầm và ủng hộ nguyên vật liệu, đồ dùng sẵn có ở địa phương để làm đồ chơi, đồ dùng dạy học Phụ huynh nộp nguyên vật liệu và cùng thầy cô vệ sinh, trang trí Phụ huynh lao động, làm đồ dùng tự tạo ngoài trời
- 9 Tóm lại, sự phối kết hợp giữa môi trường giáo dục nhà trường và môi trường giáo dục trong gia đình là một trong những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. 5. Kết quả đạt được Khảo sát lần 2 vào ngày 5/5/2022. Tổng số trẻ 5 tuổi là 100 trẻ; tổng số giáo viên là 10 giáo viên các lớp A1, A2, A4, A7, A9. Kết quả cụ thể như sau Tổng KQ KHẢO SÁT LẦN 1 KQ KHẢO SÁT LẦN 2 số trẻ Đạt Chưa đạt Đạt Chưa đạt Mức độ tiêu chí khảo Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Tỷ lệ tăng lượn % lượng % lượng % lượng % (%) sát g 1. Học sinh Trẻ nhận biết và phát âm 100 44 44 56 56 100 100 0 56 đúng chữ cái tiếng Việt 0 Trẻ nhận biết chữ cái trong 100 28 28 72 72 100 từ và ghép đúng các chữ 100 72 thành từ. Trẻ nhận biết chữ in hoa, in 100 17 17 83 83 97 97 3 3% 80 thường, viết thường Trẻ tô chữ in mờ, in rỗng và 100 30 30 70 70 100 100 70 tri giác chữ đúng chiều Biết cầm sách, mở sách ra 100 40 40 60 60 100 100 60 xem và quy trình “đọc” 2. Giáo viên Giáo viên linh hoạt, tăng cường ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực vào 10 5 50 5 50 10 100 hoạt động giáo dục “đọc- 100 viết” cho trẻ. Xây dựng môi trường “đọc- viết” cho trẻ hoạt động đạt 10 6 60 4 40 10 100 40 hiệu quả cao. Nhìn vào kết quả khảo sát lần 2, mức độ đạt được của các tiêu chí đã tăng lên rõ rệt so với khảo sát lần 1 thì về phía học sinh các tiêu chí có sự tăng lên rõ rêt như: Trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái tiếng Việt, khảo sát lần 1: 44/100 trẻ đạt, đạt 44%, khảo sát lần 2 tăng 100/100 trẻ đạt, tăng 44%. Trẻ nhận biết chữ cái trong từ và ghép đúng các chữ thành từ tăng 72% so với đầu năm học. Trẻ nhận biết chữ in hoa, in thường, viết thường, đầu năm chỉ 17/100 trẻ đánh giá đạt, cuối năm 97/100 trẻ đánh giá đạt, tăng 80%. Trẻ tô chữ in mờ, in rỗng và tri giác chữ đúng chiều tăng 70% so với đầu năm. Biết cầm sách, mở sách ra xem và quy trình “đọc” 2 tiêu chí này tăng 60% so với đầu năm. Kết quả bảng khảo sát thấy được
- 10 Giáo viên linh hoạt, tăng cường ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động giáo dục “đọc-viết” cho trẻ, minh chứng kết quả khảo sát lần 2: 10/10 giáo viên dạy lớp 5 tuổi đánh giá đạt, tăng 50% so với đầu năm; Xây dựng môi trường “đọc-viết” cho trẻ hoạt động đạt hiệu quả cao, đầu năm 6/10 giáo viên, đạt 60% biết xây dựng môi trường “ đọc – viết”, hiện tại 10/10 giáo viên được đánh giá đạt ở tiêu chí này. * Đối với trẻ: Sau khi sử dụng các biện pháp trên để cho trẻ tiếp cận, làm quen với môi trường chữ cái, chữ viết tôi nhận thấy trẻ hứng thú, linh hoạt; trẻ mạnh dạn, biết trao đổi giữa cô với trẻ và các bạn với nhau. Ngôn ngữ của trẻ phát triển nhiều hơn, đặc biệt trẻ nắm bắt các kiểu chữ, vị trí chữ nhanh nhẹn hơn đồng thời biết cách trình bày ý kiến của bản thân. Trẻ biết phối hợp với cô và các bạn trong qua trình chơi, học chữ cái, thích “đọc” sách và nghe cô đọc sách; phản ứng nhanh nhạy hơn . * Đối với giáo viên: Giáo viên nắm chắc phương pháp, thường xuyên thay đổi hình thức dạy học, thu hút trẻ tham gia vào các hoạt động, kỹ năng tuyên truyền tốt. Nắm chắc các nguyên tắc xây dựng môi trường và thực hiện xây dựng môi trường phù hợp hiệu quả. * Đối với phụ huynh: Phụ huynh nhiệt tình trách nhiệm, cho con đi học đầy đủ và đưa đón con đi học. Phối kết hợp tốt với giáo viên và nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng môi trường, ủng hộ ngày công lao động và nguyên vật liệu. tích cực dạy con nói tiếng Việt tại gia đình. * Điểm mới của đề tài này Trên thực tế đã có rất nhiều đồng nghiệp viết đề tài này, mỗi một đề tài lại đề cập đến một khía cạnh khác nhau. Xong đối với đề tài này tôi đã đề ra những biện pháp khác biệt, có tính thực thi cao, phù hợp với đặc thù của vùng miền, phù hợp với tình hình của nhà trường, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên; phù hợp với tâm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi, phù hợp với nội dung chương trình chăm sóc giáo dục hiện nay Đồng thời có tác động trực tiếp cũng như gián tiếp và có hiệu quả rất lớn về việc phát triển khả năng ngôn ngữ “đọc-viết” cho trẻ. Đặc biệt là việc tạo dựng môi trường chữ viết xung quanh, không gian và học liệu cho trẻ hoạt động, khám phá và trải nghiệm. Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi trong năm học 2022 – 2023 này. Rất mong nhận được sự đánh giá, nhận xét, góp ý của Hội đồng chấm sáng kiến các cấp để sáng kiến của tôi ngày càng hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
- 11 Nậm Mòn, ngày 7 tháng 5 năm 2023 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT HIỆU TRƯỞNG (Ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Đàm Thị Thu Thủy

