Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp đổi mới, nâng cao chất lượng thực hiện “Mô hình Dinh dưỡng cho Bé” tại trường mầm non Nậm Mòn huyện Bắc Hà
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp đổi mới, nâng cao chất lượng thực hiện “Mô hình Dinh dưỡng cho Bé” tại trường mầm non Nậm Mòn huyện Bắc Hà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_doi_moi_nang_cao_chat_luong.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp đổi mới, nâng cao chất lượng thực hiện “Mô hình Dinh dưỡng cho Bé” tại trường mầm non Nậm Mòn huyện Bắc Hà
- 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: Biện pháp đổi mới, nâng cao chất lượng thực hiện “Mô hình Dinh dưỡng cho Bé” tại trường mầm non Nậm Mòn huyện Bắc Hà. 1. Lý do chọn sáng kiến Năm học 2022-2023 toàn ngành giáo dục thực hiện Chủ đề: “Vì học sinh thân yêu; xây dựng Trường học hạnh phúc; đổi mới và hội nhập”. Để thực hiện tốt chủ đề của năm học, trong những năm học gần đây, ngành giáo dục và đào tạo huyện Bắc Hà đã chú trọng và đẩy mạnh việc thực hiện các mô hình trong năm học phù hợp điều kiện, nhiệm vụ cấp học cũng như gắn với đặc thù của vùng miền, địa phương và từng cơ sở giáo dục. Với mục đích vừa tạo ra một môi trường giáo dục sạch, xanh, đẹp, an toàn, thân thiện vừa đưa các cháu học sinh đến gần với thực tiễn đời sống hơn, để các cháu có thêm cơ hội khám phá, trải nghiệm, vui chơi và học tập dưới những ngôi trường vùng cao mến yêu, với những không gian xanh, mở, gần gũi thiên nhiên, gần gũi cuộc sống của trẻ, qua đó góp phần nâng cáo chất lượng. Trường mầm non Nậm Mòn là một ngôi trường nằm trong một không gian địa hình đẹp, với khí hậu mát mẻ và nhiều lợi thế để thực hiện các mô hình chuyên đề trong năm học. Đặc biệt nhà trường có đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên dày dặn kinh nghiệm, trẻ, khỏe, nhiệt huyết trong công tác, phụ huynh đồng thuận, ủng hộ. Cũng chính vì lí do đó mà trong những năm học gần đây Phòng giáo dục và đào tạo Bắc Hà đã định hướng, chỉ đạo điểm và giao nhiệm vụ cho nhà trường triển khai và xây dựng “Mô hình dinh dưỡng cho Bé”. Xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng, bởi công tác đảm bảo dinh dưỡng đối với mỗi đứa trẻ lứa tuổi mầm non luôn được các nhà giáo dục quan tâm trú trọng, đặt lên nhiệm vụ hàng đầu, một chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ là nền tảng giúp trẻ phát triển toàn diện, khỏe mạnh và có khả năng học tập và lĩnh hội kiến thức một cách tốt hơn. Tuy nhiên với những điều kiện thuận lợi thì việc xây dựng mô hình dinh dưỡng cho bé tại nhà trường còn nhiều khó khăn, thách thức. Với trách nhiệm lớn lao của một người cán bộ quản lý, một người đứng đầu đơn vị nhà trường, tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để đổi mới, nâng cao chất lượng thực hiện “Mô hình dinh dưỡng cho Bé” trong toàn nhà trường, khắc phục, biến những khó khăn thành động lực cùng tập thể sư phạm nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ và đạt hiệu quả chất lượng cao trong việc xây dựng mô hình dinh dưỡng Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn nghiên cứu đề tài: Biện pháp đổi mới, nâng cao chất lượng thực hiện “Mô hình Dinh dưỡng cho Bé” tại trường mầm non Nậm Mòn huyện Bắc Hà. 2. Phạm vi và thời gian áp dụng 2.1. Phạm vi nghiên cứu
- 3 Đề tài này được tôi tiến hành nghiên cứu tại trường mầm non Nậm Mòn, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. 2.2. Thời gian áp dụng Tôi đã nghiên cứu đề tài và bắt đầu áp dụng từ ngày 1/9/2022 đến hết ngày 3 tháng 5 năm 2023. 3. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến 3.1 Thuận lợi - Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Phòng GD&ĐT, sự đồng thuận, ủng hộ của Ban đại diện cha mẹ trẻ, của các bậc phụ huynh trong nhà trường. Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên năng động, sáng tạo, nhiệt huyết, đoàn kết và có tinh thần trách nhiệm cao. - Nhà trường đã xây dựng kế hoạch và chỉ đạo kịp thời các nhiệm vụ trọng tâm trong năm học tới đội ngũ, đặc biệt trú trọng đến chuyên đề, mô hình chỉ đạo điểm trong năm, thực hiện tốt mô hình vườn rau sáng tạo đem lại hiệu quả kinh tế và bổ sung vào bữa ăn cho trẻ. - Nhà trường có tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, khuôn viên để thực hiện Mô hình “ Dinh dưỡng cho bé”. - Thực hiện tốt công tác xã hôi hóa, công tác tuyên truyền vận động, tận dụng nguồn lực, sức lực, sản phẩm, cây con, nguyên liệu có sẵn tại địa phương để thực hiện mô hình. 3.2. Khó khăn Nhà trường có 1 điểm trường chính cách trung tâm huyện Bắc Hà 12 km, và nhiều điểm phân hiệu (8 điểm phân hiệu) nhiều điểm phân hiệu cách nhau xa, trong đó phân hiệu Sử Chù Chải và Bản Ngồ Thượng, Bản Ngồ Hạ xa nhất cách trường chính gần 20Km, gặp khó khăn trong công tác chỉ đạo, giúp đỡ. - Mỗi một điểm trường có điều kiện khí hậu, địa hình khác nhau. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt, mùa hè nóng, mùa đông mưa mù, sương giá, ảnh hưởng đến chất lượng trồng rau, củ, chăn nuôi. Đặc biệt thời tiết thay đổi bất thường trong ngày làm tăng nguy cơ dịch bệnh...sâu, ốc sên phá hoại rau, củ, quả... - Địa bàn xã rộng, bà con nhân dân sống không tập chung, nhiều phụ huynh đi làm xa, một số phụ huynh chưa thực sựu quan tâm, hợp tác với nhà trường trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ nên công tác tuyên truyền vận động gặp khó khăn - Nhà trường 100% cán bộ là nữ, trong công tác xây dựng và thực hiện mô hình có nhiều công việc nặng cần sức khỏe, nên gặp rất nhiều khó khăn. Học sinh trong nhà trường 99% là con em dân tộc thiểu số, các cháu
- 4 - Nhà trường đang trong quá trình xây dựng trường mới, khuôn viên, diện tích thực hiện mô hình thu nhỏ lại, chủ yếu tận dụng sân bê trông trồng rau, củ, quả các khu chăn nuôi eo hẹp. 3.3. Khảo sát tình hình thực tế trước khi áp dụng sáng kiến Trước khi thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành khảo sát về địa hình, cơ sở vật chất, đặc điểm điều kiện môi trường ở 8 điểm phân hiệu và điểm trường chính. Cũng như khảo sát đánh giá khả năng hiểu biết, kỹ năng đội ngũ giáo viên nhân viên trong việc thực hiện mô hình, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong toàn trường. Tôi tiến hành khảo sát vào 2 ngày là ngày 7 và ngày 8 tháng 9 năm 2022 như sau: * Bảng 1: Bảng khảo sát địa hình, khí hậu, khuôn viên, diện tích, chất lượng đội ngũ thực hiện mô hình của 1 điểm trường chính và 8 điểm phân hiệu nhà trường. (9 điểm khảo sát) Khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến Nội dung khảo sát ( 9 điểm (Đạt) (Chưa đạt) trường) Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ lượng (%) lượng (%) Địa hình khí hậu thuận lợi cho viêc trồng, chăm sóc các loại cây rau, củ, cây ăn quả 44,5 5 55,5% 4 ngắn ngày phù hợp địa % phương. Vườn, khuôn viên, diện tích 44,5 thuận lợi xây dựng mô hình 5 55,5% 4 % Đội ngũ giáo viên nhân viên có kỹ năng trong việc xây 40,7 dựng mô hình (27 GV, NV 16 59,3% 11 được khảo sát qua phiếu) %
- 5 * Bảng 2: Chất lượng chăm sóc, giáo dục học sinh. Nội dung khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến Chất lượng nuôi dưỡng Chất lượng giáo dục Tổng số chăm sóc toàn diện trẻ toàn trường PTBT SDD SDD Tỷ lệ Đạt Tỷ lệ CĐ Tỷ lệ CN Tỷ lệ PTBT Thể Thể (%) (%) (% CC nhẹ (%) thấp cân còi 335 trẻ 314 289 21 6,3 46 13,7 241 71,9 94 28,1 Từ bảng khảo sát tình hình trước khi áp dụng tôi thấy rằng kết quả các nội dung khảo sát tại các điểm trường về điều kiện thực hiện mô hình chưa cao cụ thể như sau: Thứ nhất về nội dung: Địa hình khí hậu thuận lợi cho viêc trồng, chăm sóc các loại cây rau, rau, củ, cây ăn quả ngắn ngày phù hợp địa phương, có 5/9 điểm trường thuận lợi đạt được 55,5 %, còn 4 điểm trường khó khăn chiếm tới 44,5 %; Có vườn, khuôn viên, diện tích phù hợp thực hiện mô hình đạt 55,5%; Khảo sát đánh giá về kỹ năng, hiểu biết của giáo viên trong việc xây dựng mô hình dinh dưỡng qua phiếu khảo sát có 16 giáo viên đạt, đạt 59,3 %. 11 giáo viên chưa có kinh nghiệm chiếm 40,7%. Thứ hai là về nội dung liên quan đến trẻ qua việc chỉ đạo và thực hiện khảo sát đánh giá đầu năm học cũng đã cho kết quả khảo sát như sau: Tỷ lệ trẻ đánh giá PTBT cân nặng: 314/335, trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là: 21 trẻ chiếm 6,3%; PTBT chiều cao: 289/335, trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi 46 trẻ, chiếm 13,7%; Chất lượng giáo dục toàn diện còn 94/335 trẻ chưa đạt chiếm 28,1%. Qua kết quả thực trạng khảo sát 2 bảng, Bản thân tôi đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá và tim ra những biện pháp, giải pháp để thực hiện có hiệu quả việc xây dựng “Mô hình dinh dưỡng cho Bé” nâng cao chất lượng chăm sóc dinh dưỡng, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ, qua đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Trước những suy nghĩ như vậy cùng với những kiến thức đã có, những kinh nghiệm đã tích lũy, đã học hỏi được, tôi mạnh dạn nghiên cứu và tìm ra những biện pháp để thực hiện: “Biện pháp đổi mới, nâng cao chất lượng thực hiện mô hình Dinh dưỡng cho Bé tại trường mầm non Nậm Mòn huyện Bắc Hà” như sau:
- 6 4. Những giải pháp, biện pháp áp dụng thực hiện sáng kiến 4.1. Giải pháp 1: Khảo sát địa hình, khí hậu, diện tích khuôn viên 9 điểm trưởng, khảo sát kiến thức, kỹ năng giáo viên trong việc thực hiện mô hình. Xây dựng kế hoạch phù hợp, phân luồng các điểm trường để bồi dưỡng, giúp đỡ. * Khảo sát địa hình, khí hậu, diện tích khuôn viên, và điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng mô hình dinh dưỡng 9 điểm trường. Như tôi đã trình bày ở trên thì trường Mầm non Nậm Mòn có 1 điểm trường chính và 8 điểm phân hiệu, các điểm phân hiệu đều cách xa nhau. Bên cạnh đó mỗi một điểm phân hiệu có những đặc điểm về đường đi, địa hình, cũng như thế mạnh và những cái khó khăn riêng về việc phát triển xây dựng mô hình dinh dưỡng cho bé. Từ những lí do đó để có thể tìm ra hướng đi mới, những thành công mới cho nhiệm vụ của mình tôi tiến hành khảo sát thật kỹ địa hình, tìm hiểu về điều kiện, khí hậu, khuôn viên thế mạnh của 9 điểm trườg xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp và hiệu quả. Ngay từ đầu năm học, tôi và các đồng chí trong Ban giám hiệu nhà trường tiến hành kiểm tra đầu năm học, đến từng điểm phân hiệu thăm nắm tình hình, nghe giáo viên trực tiếp báo cáo về những khó khăn thuận lợi của điểm trường mình về công tác xây dựng mô hình dinh dưỡng cho trẻ. Trong quá trình kiểm tra khảo sát tôi đặc biệt chú ý đến những thế mạnh riêng của điểm trường, tình hình phụ huynh như thế nào, cơ sở vật chất điều kiện khí hậu điểm trường đó ra sao, có thể trồng được cây rau củ quả đặc trưng gì? Diện tích vườn có đủ trồng rau không? Có khu thực hiện chăn nuôi, ươm các loại rau mầm, nấm, giá không? Khi tìm hiểu những điều kiện thuận lợi tôi không quên nhiệm vụ quan trọng là tìm hiểu và xác định xem việc điểm trường này có khó khăn gì? Trong việc xây dựng mô mình, ghi chép cẩn thận, từ đó tôi suy nghĩ, xây dựng kế hoạch cho riêng từng điểm, chỉ đạo, giúp đỡ giáo viên dễ dàng hơn, biến những khó khăn đó thành thuận lợi riêng của từng điểm trường. + Ví dụ: Phân hiệu Sử Chù Chải, đây là điểm phân hiệu giáp Bảo Nhai, cách trường chính gần 20km, điểm trường này có khó khăn như: khuôn viên bé, không có vườn trồng rau, trời nắng nóng nhiều, ở giáp nhà dân, gặp khó khăn trong việc đàn gia súc, gia cầm thường hay đến phá mô hình rau. + Phân hiệu Ngải Số, Trường Chính, Bản Ngồ khí hậu mát mẻ, khuôn viên diện tích rộng, phù hợp cho việc xây dựng các mô hình dinh dưỡng, có thể trồng các loại rau củ, quả ngắn ngày, dài ngày, có đủ diện tích thực hiện ươm các loại giá, mầm, chăn nuôi gà, chim bồ câu Sau khi khảo sát điều kiện môi trường, khí hậu điều kiện tôi tiến hành phân luồng từng điểm trường thành 2 nhóm sau:
- 7 + Nhóm điểm 1: Gồm 5 điểm thuận lợi, tức là có khí hậu thuận lợi, phụ huynh thuận lợi, khuôn viên có cả vườn trồng rau, cũng như có các khu vực có thể trồng rau trên bầu nhựa, tạo thành vườn rau di động như: Trường Chính, Ngải Số, Bản Ngồ Thượng, Bản Ngồ Hạ, Cồ Dề Chải. + Nhóm điểm trường 2: Gồm 4 điểm khó khăn, khó khăn trong công tác vận động, tuyên truyền, khí hậu thời tiết nắng nóng, khắc nghiệt hơn, khuôn viên diện tích nhỏ, không có vườn rau, chủ yếu sân bê tông: Sử Chù Chải, Cốc Cài, Nậm Làn, Nậm Mòn. * Khảo sát khả năng hiểu biết giáo viên, nhân viên trong việc thực hiện các mô hình. Tôi xây dựng phiếu khảo sát, bàn bạc thảo luận trong Ban giám hiệu, tổ chức lấy ý kiến 27 cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường, tập trung vào các nội dung như sau: + Đồng chí hiểu như thế nào về việc xây dựng mô hình dĩnh dưỡng cho trẻ. Xây dựng mô hình dinh dưỡng cần tập trung các tiêu chí nào? Cần có những điều kiện gì thực hiên mô hình? Kể tên một số loại rau, củ, quả cung cấp nhiều dưỡng chất, vitamin cho trẻ? Loại rau củ, quả nào phù hợp điều kiện khí hậu xã Nậm Mòn và điểm trường các đồng chí công tác. Quy trình trồng rau ở vườn và quy trình trồng rau trên bầu khác nhau điểm gì? Quy trình ươm mầm rau cải, rau muống mầm, giá đỗ như thế nào? Khi nuôi gà, chim bồ câu chú ý đến điều gì? Tháng nào trong năm có thể trồng dưa leo, đu đủ tất cả nội dung khảo sát trên liên quan trực tiếp đến việc thực hiện mô hình cũng như liên quan đến các loại giống cây, con mà tôi xác định chỉ đạo thực hiện trong mô hình dinh dưỡng. Sau khi lấy ý kiến giáo viên, nhân viên qua khảo sát tôi tiến hành phân luồng nhóm giáo viên như sau: + Nhóm 1: gồm 15 giáo viên, giáo viên xuất phát điểm là người địa phương, có kinh nghiệm kỹ năng trồng, chăm sóc cây con từ gia đình, địa phương nhưng chủ yếu kỹ năng tự học hỏi, tự đúc rút kinh nghiệm, do đó đôi lúc chưa áp dụng được khoa học hiện đại. + Nhóm 2: Gồm 12 giáo viên, giáo viên trong độ tuổi rất trẻ, trung bình sinh năm 1992 - 2000, giáo viên mới ra trường, chưa có kinh nghiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ trồng, chăm sóc cây, con và mô hình dinh dưỡng. Với số lượng giáo viên ở 2 nhóm như trên, tôi đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cụ thể, chi tiết cho từng nhóm, từng đối tượng giáo viên, đặc biệt là nhóm 2, nhóm giáo viên chưa có ký năng, hiểu biết nhiều về xây dựng mô hình, Tôi đã phân công các đồng chí giáo viên nhóm 1 sẽ hỗ trợ, giúp đỡ các đồng chí giáo viên ở nhóm 2. Còn bản thân tôi bồi dưỡng các đồng chí ở nhóm 1 thành đội quân tinh nhuệ, tiên phong trong công tác xây dựng mô hình dinh
- 8 dưỡng là cánh tay đắc lực của nhà trường; đồng thời trực tiếp giúp đỡ nhóm 2 khắc phục những tồn tại, khó khăn. Tôi đã phân công nhiệm vụ cho giáo viên mỗi lớp, mỗi phân hiệu có 1 giáo viên nhanh nhẹn, có nhiều hiểu biết xây dựng mô hình để hướng dẫn đồng nghiệp cùng lớp, cùng phân hiệu. Đồng thời chỉ đạo Chuyên môn, tổ khối giúp đỡ qua các buổi tập huấn, sinh hoạt chuyên đề và mọi lúc mọi nơi để toàn thể đội ngũ học hỏi lẫn nhau cùng nhau phát triển. * Khảo sát đánh giá chất lượng học sinh công tác chăm sóc giáo dục Chất lượng chăm sóc tôi phân công trực tiếp cho đồng chí nhân viên y tế, cân đo, vào biểu đồ và có số liệu chính xác về phát triển bình thường chiều cao cân nặng, nộp cho nhà trường. Chất lượng chăm sóc cũng như khả năng hiểu về môi trường xung quanh, kiến thức, kỹ năng trải nghiệm, tôi trực tiếp cùng Ban giám hiệu, tổ chuyên môn khảo sát đánh giá, thăm nắm kết quả. Khi xây dựng mô hình dinh dưỡng là người đứng đầu đơn vị nhà trường tôi đã xác định, mô hình không chỉ giúp trẻ cải thiện về dinh dưỡng, sức khỏe học đường, giảm thiểu suy dinh dưỡng mà việc xây dựng mô hình dinh dưỡng tạo điều kiện để trẻ có cơ hội khám phá, trải nghiệm, học tập, vui chơi đi đôi gắn với thực tiễn để trẻ có thê kỹ năng, học rất nhiều thứ từ việc xây dựng mô hình, nâng cao chất lượng toàn diện, được học dưới ngôi trường không gian xanh thân thiện, chất lượng thực chất. Mô hình dinh dưỡng của nhà trường đạt được rất nhiều thành quả lớn, trong năm học nhà trường rất vinh dự được đón các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện tham quan. Đồng chí: Trịnh Xuân Trường Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai và các đồng chí Lãnh đạo huyện Bắc Hà tham quan mô hình dinh dưỡng của nhà trường.
- 9 Các đồng chí Lãnh đạo Sở giáo dục tỉnh Lào Cai và phòng GD Bắc Hà Với việc tìm ra những thế mạnh của từng điểm trường, từng giáo viên, học sinh, rồi những khó khăn, thách thức đã giúp cho bản thân tôi có thể làm tốt công tác chỉ đạo, dồi dưỡng, giúp các điểm trường phát huy thế mạnh và biết biến cái khó khăn tạo ra cái thế mạnh, hiệu quả nhất định thực hiện mô hình dinh dưỡng cho trẻ 4.2. Giải pháp 2: Tiếp tục nâng cao nhận thức đội ngũ tầm quan trọng việc “xây dựng mô hình dinh dưỡng cho bé” Quán triệt, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, lợi ích và hiệu quả của việc xây dựng mô hình dinh dưỡng. Việc này sẽ giúp cho cán bộ, giáo viên trong các nhà trường nắm vững quan điểm, chỉ đạo ngành giáo dục tỉnh Lào Cai nói chung và cấp học mầm non huyện Bắc Hà nói riêng, ích lợi của việc xây dựng và thực hiên mô hình dinh dưỡng mang lại, từ đó sẵn sàng hơn với việc đổi mới tư duy, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức thực hiện, có trách nhiệm hơn trong việc cùng tập thể nhà trường thực hiện mô hình. Bản thân tôi và 2 đồng chí Phó hiệu trưởng nhà trường phải là người đi đầu, phải hiểu và nhận thức đúng đắn về các chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT về vai trò, trách nhiệm công tác giáo dục trẻ mầm non, nghiên cứu công văn, kế hoạch chỉ đạo chuyên đề, mô hình kế hoạch số 40/KH-PGD&ĐT ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Phòng GD&ĐT huyện Bắc Hà, kế hoạch chỉ đạo thực hiện các chuyên đề, mô hình năm học 2022 – 2023; từ đó xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề, mô hình của đơn vị mình phù hợp và hiệu quả.
- 10 Tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề, báo cáo kinh nghiệm, tham quan, học tập, rút kinh nghiệm, xen kẽ trong trong đó là việc tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức về việc xây dựng mô hình dinh dưỡng cho toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường. Nhà trường tổ chức cho giáo viên tham quan, học hỏi cách làm, cách xây dựng mô hình giữa các điểm phân hiệu với nhau, tổ chức tham quan học hỏi đơn vị trường bạn, tạo cơ hội đội ngũ tự bồi dưỡng kỹ năng, rút kinh nghiệm cho bản thân mình. Thông qua buổi sinh hoạt chuyên đề mô hình nhà trường tổ chức cho tập thể cán bộ giáo viên chia sẻ những cách làm hay sáng tạo của mình, để bạn bè đồng nghiệp lắng nghe, học hỏi lẫn nhau, đây là một trong những nội dung dược nhà trường rất quan tâm và trú trọng. Hình ảnh Hội thảo, hướng dẫn thực hiện mô hình dinh dưỡng Chú trọng và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, các phương pháp, hình thức đa dạng trong thực hiện mô hình. Ngiên cứu, áp dụng kỹ thuật trồng, chăn nuôi phương pháp hiện đại, tiên tiến. Có thể khẳng định rằng đây là một trong những giải pháp hữu hiệu, giúp đội ngũ có nhận thức đúng đắn và khơi dậy tinh thần xây dựng mô hình dinh dưỡng của nhà trường. 4.3. Giải Pháp 3: Đổi mới tư duy, hành động, của lãnh đạo quản lý, người đứng đầu đơn vị cơ sở. Đổi mới tư duy quản lý giáo dục là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động giáo dục ở các nhà trường. Trong thời đại 4.0 hiện nay thì việc đổi mới tư duy, nhận thức, cách làm của đội ngũ quản lý giáo dục càng có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, là lãnh đạo quản lý đứng đầu đơn vị nhà trường tôi luôn nắm rõ vai trò, trách nhiệm quản lý của mình, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm
- 11 chất, lối sống, lương tâm, năng lực quản lý để lãnh chỉ đạo đội ngũ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Xã hội ngày càng phát triển, thì yêu cầu về giáo dục cần có sự đổi mới, việc xây dựng các chuyên đề và mô hình trong các nhà trường mang đến nguồn sáng mới mẻ giúp các phong trào giáo dục ngày càng phát triển. Với giáo dục mầm non hiện nay nhu cầu học tập của các cháu hướng đến hoạt động trải nghiệm, trẻ được học tập và lĩnh hội kiến thức một cách thoải mái, tự nhiên nhất. Xây dựng mô hình dinh dưỡng cho bé ở nhà trường là một hoạt động có ý nghĩ thiết thực, vừa tạo ra môi trường hoạt động trải nghiệm thú vị vừa góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Để nhà trường có thể thực hiện thành công và hiệu quả mô hình này, là người đứng đầu tôi xác định bản thân mình phải đổi mới nhận thức, xây dựng kế hoạch, đổi mới những nội dung phương thức để có cách nhìn nhận, cách nghĩ, cách làm mới sáng tạo hơn Tôi thiết nghĩ để động viên đội ngũ hăng say xây dựng mô hình trước tiên tôi luôn tạo ra cho đội ngũ một tâm thế thoải mái, an tâm công tác, phát động các phong trào thi đua xây dựng mô hình, không quyết đoán mà luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chia sẻ của đội ngũ cùng góp ý xây dựng, cho đội ngũ thảo sức sáng tạo, phát triển ý mới, sáng tạo, trong việc xây dựng mô hình dinh dưỡng. Tạo dựng một môi trường làm việc đoàn kết, đoàn kết từ Ban giám hiệu, đoàn kết toàn thể đội ngũ cán bộ trong nhà trường, tạo một tập thể vững mạnh, vững chắc. Lấy chính bản thân mình là một tấm gương thực hiện nhiệm vụ để đội ngũ noi theo, không chỉ lãnh chỉ đạo mà tôi sẵn sàng bắt tay vào làm, xây dựng mô hình, không ngại khó, ngại khổ, mỗi ngày sau những giờ làm việc tôi luôn tranh thủ thời gian cùng đội ngũ của mình thiết kế xây dựng mô hình. Lao động chăm sóc vườn rau sau giờ làm việc
- 12 Để tạo động lực, tạo khí thế trong việc xây dựng mô hình dinh dưỡng nhà trường phối hợp với Công đoàn phát động phong trào thi “trồng rau xanh tốt” tổ chức các điểm phân hiệu thi với nhau, thành lập Ban giám khảo đánh giá và chấm điểm, trao giải tạo động lực khuyến khích đội ngũ và lấy đó làm tiêu chí đánh giá cuối năm, động viên, khen gợi kịp thời để cổ vũ động viên kịp thời. 4.4. Giải pháp 4: Đầu tư, giám sát, kiểm tra cơ sở vật chất, công tác xã hội hóa giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ xây dựng và phát triển mô hình tại các điểm trường Đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, hạ tầng để xây dựng mô hình dinh dưỡng Đây là tiền đề quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ có cơ sở vững chắc, tạo động lực cho đội ngũ thực hiện mô hình tại điểm trường mình Xác định được tầm quan trọng của vấn đề, bản thân tôi đã bàn bạc, thống nhất trong Ban giám hiệu, để trang bị, sắm các thiết bị cơ bản, cần thiết cho đến đại cho các lớp, các điểm trường lẻ từ gần đến xa để đảm bảo việc xây dựng mô hình như Do diện tích khuân viên trồng rau ở điểm trường chính và 1 số điểm phân hiệu chưa rộng, diện tích vườn nhỏ, chủ yếu là sân bê tông, do vậy tôi đã tiến hành đầu tư làm giá 3 tầng bằng sắt để xếp rau, đầu tư bầu nhựa, sọt nhựa trồng
- 13 rau đối với những điểm không có vườn rau, lắp hệ thống tưới tiêu tự động, tưới phun sương ở điểm Trường Chính và Cồ Dề Chải. Hình ảnh bầu rau xếp gọn gàng trên giá kệ 3 tầng Để làm giàn cho Dưa leo, đậu béo, các loại quả bầu, bí đao tôi tiến hành mua sắm thêm các vật liệu dây cước chuyên dụng làm giàn vừa đẹp, an toàn, thẩm mỹ và hiệu quả sử dụng lâu dài. Để đảm bảo che sương muối vào mùa đông và năng nóng gay gắt mùa hè tôi đầu tư trang bị thêm mái che. Hình ảnh vườn Dưa leo thiết kế trên sọt nhựa và dây cước
- 14 Hình ảnh học sinh thu hoạch Dưa leo Dưa leo là loại quả trẻ rất thích ăn, khí hậu Nậm Mòn ấm áp, mát mẻ phù hợp trồng loại quả này, 1 năm nhà trường thực hiện trồng 2 vụ, đầu năm khoảng tháng 9 -12 cuối năm từ tháng 3 đến tháng năm. Vườn dưa không chỉ cung cấp thêm loại quả bổ xung thêm bữa phụ cho trẻ buổi chiều, còn tạo cơ hôi cho trẻ được trải nghiệm hái dưa, kỹ năng làm dưa góp cách chăm sóc, bảo vệ cây. Vườn dưa trĩu quả, đẹp, khoa học được thiết kế trên sọt nhựa và dây cước
- 15 Thực hiện mô hình ươm giá, ươm mầm nhà trường tiến hành mua sắm thêm giá, chậu đảm bảo an toàn, sạch sẽ giá đậu ươm theo đúng quy trình đảm bảo ngon, giá mập, nhiều chất dinh dưỡng. Tạo cơ hội trẻ trải nghiệm quy trình làm giá đỗ, trẻ được thực hành, nói cách làm, thông qua đó tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Hình ảnh khu ươm giá đỗ Ứng dụng và áp dụng khoa học kỹ thuật trong việc ủ phân, tạo phân bón hữu cơ cho rau, cây ăn quả như ủ phân bón hữu cơ truyền thống ủ từ phân chuồng, phân xanh, phân rác; phân bón hữu cơ vi sinh, các loại phân bón này đạt hiệu quả cao, giảm thiểu chi phí tiền phân bón, tiết kiệm kinh tế và đặc biệt giảm lượng phân bón hóa học và thuốc bảo về thực vật, các loại rau đảm bảo an toàn. Để làm được việc này tôi thành lập tiểu bản giúp đỡ, tư vấn thực hiện mô hình, nhóm có trách nhiệm học hỏi công nghệ ủ phân trên mạng intneter sau đó tiến hành thử kiệm, áp dụng ủ phân khi tạo thành sản phẩm thử bón trên một nhóm thực vật tại điểm trường chính và giúp đỡ các điểm phân hiệu thực hiện ủ phân. Hình ảnh ủ phân hữu cơ
- 16 Chỉ đạo đội ngũ giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền vận động, ủng hộ của các bậc phụ huynh về cây, con giống, phân, nguyên liệu, vật liệu, sản phẩm địa phương, sức lực, ngày công để xây dựng mô hình dinh dưỡng các điểm trường và trường chính. Hình ảnh Phụ huynh tham gia lao động, xây dựng mô hình Bên cạnh việc đầu tư, mua sắm trang thiết bị thì tôi đã chỉ đạo trong Ban giám hiệu, tổ trưởng các đoàn thể kiểm tra định kỳ và tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa những thiết bị hỏng hóc có kế hoạch tu sửa bổ xung. Đặc biệt, nhà trường đã thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá định kỳ, đột xuất việc sử dụng và bảo quản, kịp thời động viên, khuyến khích các cá nhân, tổ chuyên môn làm tốt, đồng thời nhắc nhở, phê bình các cá nhân, tổ chuyên môn thực hiện chưa tốt. 4.5. Giải pháp 5: Tiếp tục chú trọng, đầu tư thực hiện xây dựng mô hình dinh dưỡng nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục. Thứ nhất: Ngay từ đầu năm học nhà trường đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học, kế hoach thực hiện chuyên đề và mô hình, xác định nhiệm vụ trọng tâm trong năm, triển khai kịp thời tới đội ngũ, chỉ đạo thực hiện mô hình “Dinh dưỡng cho bé”ở điểm trường chính và 8 điểm phân hiệu. Lựa chọn mô hình làm điểm ở Trường chính, phân hiệu: Nậm Mòn, Ngải Số, Cốc Cài Thượng. Tổ chức họp, nghiên cứu giải pháp thực hiện, lựa chọn giống rau, củ, quả phù hợp theo mùa, phù hợp điều kiện địa hình thời tiết từng điểm
- 17 trường, đem lại hiệu quả dinh dưỡng cao, và năng suất như: rau dền, rau ngót, rau cải xanh...su su, bí đao, bí đỏ, đu đủ, chuối Dưới đây là một số H/A vườn rau xanh tốt quanh năm của nhà trường
- 18 Để nâng cao giá trị dinh dưỡng cho các bữa ăn, bổ xung thực đơn đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng nhà trường thực hiện mô hình nuôi chim bồ câu, nuôi gà, làm giá đỗ, trồng nấm, rau mầm... Tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, vui chơi, học tập từ “mô hình dinh dưỡng”. Nhà trường luôn chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch và nâng cao việc thực hiện tổ chức các hoạt động khám phá cho trẻ, chính vì vậy mà trẻ rất hào hứng, thích thú trong các hoạt động như: Chăm sóc rau, củ, cho gà, chim bồ câu ăn, hái nấm, trải nghiệm ươm rau mầm, làm giá...tham gia hoạt động trẻ học toán, tăng cường tiếng Việt qua biển tên, số lượng cây con...giáo dục trẻ tình yêu lao động, môi trường thiên nhiên, yêu quí sản phẩm do mình làm ra...đặc biệt nâng cao hiệu quả công tác giáo dục. Trẻ trải nghiệm khu vườn rau của bé
- 19 Nhằm tăng thêm sự phong phú, đảm bảo khẩu phần ăn đa dạng trong các bữa phụ, nhà trường chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác tuyên truyền vận động phụ huynh ủng hộ gạo nếp, đậu đen, lạc...nấu sôi, chè, bánh trưng, bánh dày cho trẻ ăn. Hình ảnh trẻ hào hứng khi được ăn quà chiều từ sôi, chè đậu đen Nhà trường chỉ đạo giáo viên trồng các loại cây lá làm sôi: Lá tím, lá đỏ, nghệ...Việc bổ sung thêm món ăn vào bữa phụ, trẻ rất thích ăn, trẻ luôn ăn hết xuất của mình. Làm tốt công tác tuyên truyền vận động phụ huynh cùng góp sức, góp công, ủng hộ giống, vật nuôi, phân, ngô, thóc...Tiết kiệm nguồn cung cấp giống nhà trường xây dựng khu vườn ươm, gieo hạt, ươm cây...tạo nguồn giống cây để trồng, vừa đảm bảo giống khỏe mà tiết kiệm chi phí. Lắp hệ thống ống nước, tưới tiêu phù hợp đảm bảo nhanh, tiết kiệm thời gian. Thiết kế chuồng nuôi chim bồ câu, nuôi gà xa khu vực lớp học, đảm bảo an toàn vệ sinh, giữ môi trường xanh sạch. Những luống rau xanh và sạch này của cô, trò sẽ được bổ sung vào chính bữa ăn bán trú của trẻ. Hiệu quả từ mô hình này đã không chỉ giúp các cháu có môi trường học tập thực tế mà còn góp phần nâng cao sức khỏe dinh dưỡng cho các cháu. Tổ chức ngày hội dinh dưỡng cho bé ở tất cả điểm trường, có sự tham gia các bậc phụ huynh, đây cũng là cách thức để thu hút sự quan tâm phụ huynh trong công tác phối hợp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, kêu gọi thêm sự ủng hộ phụ huynh. Các điểm trường lên lịch tổ chức ngày hội dinh dưỡng cho bé, mời sự tham gia của Ban giám hiệu nhà trường các tổ chức Công đoàn thanh niên, qua đó nhà trường đánh giá được việc thực hiện nhiệm vụ của các điểm trường.
- 20 Ngày hội dinh dưỡng của Bé Các điểm tổ chức lưu giữ hình ảnh, video đăng lên công thông tin trang web nhà trường, thu hút sự quan tâm đầu tư của tổ chức xã hội và cộng đồng. 5. Kết quả đạt được Với việc đưa ra những giải pháp và phương pháp phù hợp như trên, sau 28/4/2023. Kết quả cụ thể như sau: * Bảng 1: Bảng khảo sát địa hình, khí hậu, khuôn viên, diện tích, chất lượng đội ngũ thực hiện mô hình của 1 điểm trường chính và 8 điểm phân hiệu nhà trường. (9 điểm khảo sát) Trước khi áp dụng sáng kiến Sau khi áp dụng sáng kiến So sánh Nội Đạt Chưa đạt Đạt Chưa đạt dung k/s 7 điểm Tỷ Tỷ Số Tỷ Số trường S/l Tỷ lệ Tăng S/lg lệ lệ lượ lệ lượn g (%) (%) (%) ng (%) g % Địa hình khí hậu thuận lợi cho viêc trồng, chăm sóc 55,5 44,5 100 44,5 các loại 5 4 9 0 0% cây rau, % % % % củ, cây ăn quả ngắn ngày phù hợp địa phương, Vườn, 5 55,5 4 44,5 9 100 0 0% 44,5
- 21 khuôn % % % % viên, diện tích thuận lợi xây dựng mô hình Đội ngũ giáo viên nhân viên có kỹ năng trong việc 59,3 40,7 100 40,7 xây dựng 16 11 27 0 0% mô hình % % % % (27 GV, NV được khảo sát qua phiếu) * Bảng 2: Chất lượng chăm sóc, giáo dục học sinh Trước khi áp dụng sáng kiến Sau khi áp dụng sáng Tổng Chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng Chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng số trẻ toàn SDD SDD SDD SDD Tỷ lệ trường PT PT Tỷ PT PT Tỷ % BT BT Thể lệ Thể Tỷ BT BT Thể lệ Thể CN CC nhẹ % thấp lệ CN CC nhẹ % thấp cân còi % cân còi 335 314 289 21 6,3 46 13,7 326 307 9 2,7 28 8,3 trẻ % Trước khi áp dụng sáng kiến Sau khi áp dụng sáng kiến Tổng Chất lượng giáo dục toàn diện Chất lượng giáo dục toàn diện số trẻ toàn Đạt Chưa đạt Đạt Chưa đạt trường Tỷ lệ Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ S/lg S/lg (%) (%) lượng (%) lượng (%) 335 71,9 98,8 241 94 28,1 331 4 1,2% trẻ % % % Qua kết quả khảo sát cụ thể nêu trên sau khi áp dụng sáng kiến so với kết quả đầu năm khi chưa áp dụng sáng kiến thì chất lượng đã thay đổi rõ rệt, cụ thể: Khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến đối với: Địa hình khí hậu thuận lợi cho viêc trồng, chăm sóc các loại cây rau, củ, cây ăn quả ngắn ngày phù hợp địa phương; Vườn, khuôn viên, diện tích thuận lợi xây dựng mô hình, đầu năm cả 2 nội dung khảo sát này chỉ có 5/9 điểm trường đánh giá thuận lợi đạt 55,5%, sau khi nghiên cứu và biết lựa chọn loại giống phù hợp, cũng như thiết kế xây dựng

