Phân tích nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

Phân tích nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Đánh giá bài viết

Phân tích nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

Bài làm

Loading...

I.    Mở bài:

– Nguyễn Thi người miền Bắc, là nhà văn mặc áo lính và trở thành "Nhà văn của nông dân Nam Bộ" trong cuộc kháng chiến chông Mĩ cứu nước.

– “Những đứa con trong gia đình" là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi, được viết năm 1966. Trong tác phẩm, tác giả đã khắc họa hình ảnh Việt, một người con vùng đổng bằng Nam Bộ, nặng tình với gia đình, quê hưong đất nước, trở thành người chiến sĩ gan dạ, dũng cảm, yêu thưong đồng đội. Đó là vẻ đẹp trong tâm hồn Việt, vẻ đẹp của tuổi trẻ đất phưong Nam thòi chống Mĩ.

II.    Thân bài:

–     Trong tác phẩm, Việt là nhân vật xuất hiện nhiều nhất trên trang văn. Dường như tác giả đã “trao ngòi bút" cho Việt để qua dòng hổi ức, Việt có thể tự viết về “những đứa con trong gia đình" bằng một ngôn ngữ, giọng điệu riêng. Bằng cách ấy, Việt hiện lên trước mắt người đọc vừa sinh động cụ thể, vừa là một chàng trai hồn nhiên, vô tư mói lớn, vừa là một chiến sĩ dũng cảm kiến cường.

1. Việt có nét riêng dễ mến của cậu con trai lộc ngọc, vô tư, ngây thơ, hiếu động:

–     Chị Chiến hay nhường nhịn em nhưng Việt lại thích tranh phần hon. Việt thích đi câu cá, bắn chim, khi đi bộ đội mà vẫn mang theo chiếc ná thun trong túi.

–     Mọi công việc ở nhà đều phó thác cho chị Chiến. Đêm trước ngày lên đường, chị Chiến lo toan, cắt đặt mọi công việc thì Việt vô tư “lăn kềnh ra ván cười khì khì", mắt dõi theo những con đom đóm rồi chụp lấy một con, úp vào hai lòng bàn tay rồi ngủ quên lúc nào không biết.

Loading...

–     Cách thưong chị của Việt cũng rất trẻ con “giấu chị như giấu của riêng", vì sợ mất chị trước những lời đùa tếu của anh em.

–     Khi bị thưong, nằm lại chiến trường, Việt không sợ chết, không sợ giặc nhưng lại thở dốc, ớn lạnh khi nghĩ đến con ma cụt đầu ngồi trên cây xoài. Khi đồng đội tìm được thì Việt khóc như con nít, khóc đây rồi cười đây, đúng là một chàng trai tính cách còn trẻ con.

2. Dũng cảm, gan góc, kiến cường:

–     Ngoài mặt trận, khi đối mặt với kẻ thù, Việt không còn là cậu con trai ngây tho, hồn nhiên nữa, mà ngược lại chững chạc như một người lính trẻ dũng cảm, gan góc, kiến cường. Phẩm chất ấy là dòng máu truyền thông của gia đình luôn chảy trong Việt, không biết sợ trước sự tàn bạo nào.

–     Lúc Việt còn nhỏ, Việt đã dám xông thẳng vào thằng giặc vừa liệng đầu ba mà đá.

–     Việt khao khát được cầm súng trả thù nhà, đền nợ nước. Chưa đủ tuổi tòng quân, Việt đã nằng nặc đòi đi cầm súng trả thù cho ba má. Chị Chiến không muốn cho Việt đi, Việt phản kháng lại chị bằng lời nói dõng dạc, dứt khoát: "bộ mình chị biết đi trả thù à?" Khát vọng được nhập ngũ, được cầm súng để trả thù là thước đo lòng yêu nước trong tâm hồn Việt.

–     Khi xung trận, Việt chiến đấu rất dũng cảm, dùng thủ pháo tiêu diệt xe bọc thép của giặc và nhiều tên khác.

–     Việt bị thưong, lạc đồng đội ba ngày ba đêm. Trong tình huống này, anh cảm thấy như tê dại và không biết máu hay nước chảy khắp cả người, chỗ thì “ướt sũng", chỗ thì "dẻo quẹo", chỗ thì "khô cứng". Hàng loạt hình ảnh cụ thể, liệt kê, sống động chứng tỏ Việt đang chịu sự đau đón của thân xác đến tột cùng nhưng Việt không kêu than, đó là nét đẹp kiến cường, dũng cảm của người chiến sĩ trẻ.

–      Một mình nằm giữa chiến trường hoang vắng, xác giặc ngổn ngang, mắt không còn thấy gì, người đói khát, kiệt sức, Việt vẫn nằm trong tư thếchờ giặc. Mười ngón tay thì chín ngón bị thương, "đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng".

–      Cứ như vậy, người con trai giản dị ấy thấy việc đi đánh giặc là một việc bình thường, nó giống như đi bắn chim, bắt ếch ở nhà vậy. Có lẽ Việt là người đi xa hơn cả dòng sông truyền thống, không chỉ Việt đã lập công lớn nhất, mà ngay cả khi đã bị trọng thương, Việt vẫn đi tìm giặc để đánh. Việt đúng là nhân vật tiêu biểu cho lớp trẻ, nòng cốt của tiến công cách mạng trong thời đại cách mạng.

3.  Giàu tình yêu thương:

–      Bị rơi vào tình thế hiểm nghèo ngất đi rồi tỉnh lại, đói khát, cô độc giữa chiến trường ngổn ngang khói súng và xác chết, Việt không nghĩ cho cảnh ngộ bản thân mà mỗi lần tỉnh lại, chập chờn trong kí ức lại hiện ra những khuôn mặt thân thương trong gia đình, từ chị Chiến, chú Năm đến ba má rồi ông bà nội, mỗi con người một SỐ phận, những cái tang đau đớn, những mối thù chồng chất.

a.     Yêu thương má:

–      Việt nhớ má, người má suốt đời lam lũ, vất vả, nén chịu chồng chất những nỗi đau để nuôi con, đánh giặc. Từ khi chồng bị giặc Tây chặt đầu, bà tất bật ngược xuôi, ngày ngày đi từ cánh đổng này sang bưng biền nọ làm thuê làm mướn để mang về thúng lúa, mớ tép nuôi các con.

–      Đêm cuối cùng, trước giờ phút lên đường nhập ngũ, Việt nhìn những con đom đóm lập lòa mà liên tưởng đó là hình bóng má, má đã về chứng kiến hai chị em trước lúc lên đường. Việt còn hình dung giờ này biết đâu má đang ngồi dựa vào những thúng lúa cẩm nón quạt như cùng chia sẻ niềm vui khi các con trưởng thành. Phải có một tình yêu thương má sâu sắc thì tâm hồn Việt mới khơi dậy những dòng suy nghĩ, liên tưởng về má đẹp như thế.

–      Xúc động nhất là lúc Việt bị thương nặng, ngất đi, lúc tỉnh lúc mê nhưng Việt vẫn hồi tưởng về quá khứ khi còn má. Việt nhớ lại "má xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lây xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuồng lên cho Việt ăn…" Hàng loạt những dòng suy nghĩ liên tưởng của Việt về má đều xuất phát từ tình yêu thương sâu sắc của Việt đối với má, đó là tình mẫu tử thiêng liêng vẫn in sâu trong tâm hồn Việt.

b.     Yêu thương chi Chiến:

–      Việt nhớ chị Chiến, chị mang bóng hình của má từ dáng vóc cho đến giọng nói, tính cách.

–      Hình ảnh xúc động nhất, thấy rõ tấm lòng yêu thương của Việt đối với chị, chính là lúc hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm. Việt đi trước, chị Chiến theo sau nhưng Việt nghe rất rõ hai tiếng "bịch bịch" phía sau lưng Việt, "Việt thấy thương chị lạ. Có lẽ đây là giờ phút thiêng liêng, Việt cùng chị gánh mối thù nặng vai, Việt thấy thương má, thương chị vô cùng".

c.     Viêt yêu quý chú Năm:

–      Từ khi cha bị giặc Tây chặt đầu, chú Năm là chỗ dựa tinh thần vững chắc đối với Việt.

–     Việt nhớ nhất là mỗi lần chú Năm kể chuyện về gia đình, về những trận đánh trên mặt đất, chú thường đưa "tiếng hò" vào trong lúc kể chuyện. với Việt, tiếng hò của chú Năm như là tiếng vọng của hổn thiêng sống núi, tiếng vọng của những người thân trong gia đình đã khuất vì chiến tranh và tiếng hò ấy đối với Việt như "một hiệu lệnh", "lời nhắn nhủ tha thiết", hay như "một lời thề dữ dội" ăn sâu trong máu thịt của Việt, khoi gợi trong tâm hổn Việt một tình yêu quê hưong đất nước. Mỗi khi buồn vui chú đểu hò, trong giọng hò chất chứa bao điều trái tim muốn nói với gia đình, quê hương, đất nước.

d.     Yêu thương đồng đôi:

–     Việt xem đơn vị như là một gia đình, đổng đội là những người thân yêu ruột thịt của Việt. Lúc bị thương, Việt xác định rõ tiếng súng của đổng đội, anh bò hướng về tiếng súng.

–     Việt vân nhớ rất rõ nụ cười, cái nheo mắt của anh Công cùng cái cằm nhọn hoắt của anh Tánh, người tiểu đội trưởng mà Việt xem như là anh ruột của mình.

III.     Kết bài:

–     Chuyện mang đậm màu sắc sử thi, ngôn ngữ gần gũi với nhân dân, đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật, dòng hồi tưởng của nhân vật rất thật, giàu sức biểu cảm.

Nhà văn đã khắc họa thành công nhân vật Việt, người thanh niên trẻ, người chiến sĩ vùng sống nước đất phương Nam, đã đi vào tác phẩm như một hình tượng nghệ thuật sống, một người con nặng tình với gia đình, một người chiến sĩ nặng lòng với quê hương đất nước, với đổng đội.