Mô tả sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mo_ta_sang_kien_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_ren_doc_c.docx
Nội dung tài liệu: Mô tả sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018
- ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP ĐỨC “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018” Tác giả : NGUYỄN THỊ BÌNH Trình độ chuyên môn: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Chức vụ: GIÁO VIÊN- TỔ PHÓ CHUYÊN MÔN Nơi công tác: TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP ĐỨC Ngày 25 tháng 12 năm 2023 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Ủy Ban nhân dân quận Đồ Sơn; Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Đồ Sơn; Trường Tiểu học Hợp Đức. STT Họ và Ngày Nơi công Chức danh Trình Tỉ lệ (%) tên tháng tác( hoặc độ đóng góp năm nơi thường chuyên vào việc tạo sinh trú) môn ra sáng kiến 1 Nguyễn 04/12/ Trường Tổ phó Đại học 100% Thị 1980 Tiểu học chuyên sư phạm Bình Hợp Đức môn tiểu học Là tác giả đề nghị công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018” - Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Bình - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Trong công tác dạy học tại các trường Tiểu học. Đặc biệt là các em học sinh lớp 2 ở trường Tiểu học Hợp Đức. Ngoài ra còn áp dụng trong giao tiếp cuộc sống hằng ngày. - Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng dùng thử: 01/10/2022 - Mô tả bản chất của sáng kiến: 1. Tính mới, tính sáng tạo : Biện pháp đã góp phần thực hiện tốt mục tiêu của Chương trình GDPT 2018 là đặt kỹ năng đọc lên hàng đầu trong bốn kỹ năng đọc, viết, nói và nghe. Các em đọc tốt, đọc hay sẽ giúp học tốt môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Các em có thói quen tự học, tự đọc sẽ chiếm lĩnh được kiến thức trong các môn học cũng như trong cuộc sống. Học sinh có khả năng tìm tòi, tra cứu các bài đọc đúng chủ đề, chủ điểm trong các tiết đọc và hoạt động giáo dục. Ngoài khả năng tìm tòi, sưu tầm bài đọc các em còn có khả năng sáng tác ra đoạn thơ, bài thơ phù hợp với chủ đề, chủ điểm của bài học. Các em háo hức muốn thể hiện bài đọc của mình trước bạn bè, thầy cô. Điều đó cho thấy các em đã chiếm lĩnh được tri thức và thực sự làm chủ được bài đọc. Các hoạt động giáo dục linh hoạt tạo hứng thú cho học sinh học tập thoải mái, vui tươi như học mà chơi, chơi mà học. Các em không cảm thấy gò bò, sợ sệt mà thay vào đó là mạnh dạn, tự tin thể hiện bản thân một cách hào hứng, sôi nổi và phát huy được tính tích cực trong học tập. Những tình huống giao tiếp
- gần gũi, phù hợp với thực tế ở lớp học, gia đình, bạn bè nên các em đưa ra cách ứng xử phù hợp, thiết thực. Những tràn pháo tay, lời khen ngợi, động viên hay món quà học tập nhỏ sẽ tạo động cơ cho các em tự nỗ lực phấn đấu hoàn thiện hơn mỗi ngày. Biện pháp đã góp phần vào việc giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách. Từ đó, học sinh thích đọc và thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ và phát triển. Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin các em đã biết sử dụng điện thoại thông minh tra cứu bài đọc, tự quay video về bài đọc của mình. Ngoài ra, các sáng kiến còn giúp cho giáo viên và phụ huynh là những người luôn đồng hành cùng các con trong học tâp cũng như trong cuộc sống, giúp giáo viên và phụ huynh hiểu hơn về tâm sinh lý, ước mơ, sở thích của các con. 2. Khả năng áp dụng, nhân rộng Những biện pháp trên dễ áp dụng không những chỉ đối với một giáo viên cụ thể nào mà có thể áp dụng với các giáo viên. Đồng thời các biện pháp này cũng không chỉ áp dụng ở một khối lớp, mà có thể áp dụng cho các khối lớp và ở nhiều cấp học khác nhau. Biện pháp này không những chỉ áp dụng trong trường học mà còn có thể áp dụng mọi lúc, mọi nơi ngay trong giao tiếp và trong cuộc sống . 3. Những thông tin cần được bảo mật: không 4. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: + Các lớp học cần có đầy đủ trang thiết bị để việc Ứng dụng Công nghệ thông tin hiệu quả. + Giáo viên luôn nhiệt tình, tích cực, quan tâm hỗ trợ học sinh để hiệu quả việc rèn đọc được nâng cao. + Giáo viên luôn luôn đổi mới phương pháp, linh hoạt trong các hình thức tổ chức để giờ học thực sự đạt hiệu quả. Ngoài ra, giáo viên phải là người yêu nghề, mến trẻ luôn tạo cho học sinh cảm thấy thích thú trong mỗi tiết học. + Giáo viên cần vận dung tốt mô hình “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực” cùng những lời động viên, khích lệ, khen thưởng học sinh sẽ phấn khởi, tích cực trong học tập. + Giáo viên và phụ huynh phối hợp nhịp nhàng trong quá trình học tập và rèn luyện. 5. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp 5.1. Hiệu quả kinh tế : Tiết kiệm thời gian của giáo viên trong việc chuẩn bị giáo cụ mà giờ học đạt hiệu quả cao hơn. Học sinh chỉ cần dành ra ít thời gian chuẩn bị, nghiên cứu, sưu tầm bài đọc ở sách, báo, mạng internet và đọc bài trước ở nhà giúp các em
- đọc tốt, đọc hay hơn vào những giờ học trên lớp. Tiết kiệm kinh tế một cách tối đa cho giáo viên vì không cần phải mua sắm, trang bị cầu kì đồ dùng học tập. 5.2. Hiệu quả về mặt xã hội : Giúp các em có vốn kiến thức và tự tin giao tiếp với thầy cô, bạn bè, gia đình và xã hội, chủ động lĩnh hội các kiến thức thuộc các lĩnh vực khác nhau : Khoa học – kĩ thuật, kinh tế - xã hội, y học Tạo được môi trường học tập nhẹ nhàng, đoàn kết giúp các em xóa bỏ được cảm giác rụt rè, ngại ngùng trước mọi người và thêm mạnh dạn, tự nhiên hơn. Các em biết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xóa đi khoảng cách giữa các học sinh, các em học sinh yếu không cảm thấy ngại ngùng trước các bạn. Từ đó, giúp học sinh phát triển hơn về vốn từ và cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, làm giàu kiến thức về ngôn ngữ nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ và tư duy cho học sinh. Bên cạnh đó còn giúp những em có kĩ năng giao tiếp tốt sẽ có cơ hội thể hiện bản thân trước bạn bè, gia đình và xã hội. 5.3. Giá trị làm lợi khác : Giúp học sinh tích cực hơn trong học tập, mạnh dạn tự tin hơn khi tham gia các hoạt động từ đó dần hoàn thiện mình trong giao tiếp. Giúp học sinh có ý thức tìm đọc nhiều tác phẩm văn học, nhiều cuốn sách, truyện... Từ đó giúp các em thêm yêu sách. Biết yêu các giá trị nhân văn trong mỗi ngôn từ. Điều đó sẽ hình thành cho các em những phẩm chất tốt đẹp, bồi dưỡng tâm hướng thiện, biết yêu cái đẹp cũng như mở rộng tầm hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, cuộc sống và con người. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hợp Đức, ngày 25 tháng 12 năm 2023 CƠ QUAN ĐƠN VỊ NGƯỜI NỘP ĐƠN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (xác nhận) ........................................................ Nguyễn Thị Bình ........................................................ ........................................................ ........................................................ ........................................................ THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
- 1.Tên sáng kiến: : “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Trong công tác dạy học tại các trường Tiểu học. Đặc biệt là các em học sinh lớp 2 ở trường Tiểu học Hợp Đức. Ngoài ra còn áp dụng trong giao tiếp cuộc sống hằng ngày. 3.Tác giả Họ và tên : Nguyễn Thị Bình Ngày/tháng/năm sinh: 04/12/1980 Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Hợp Đức. Điện thoại: DĐ: 0983 273 657 Gmail : [email protected] 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị : Trường Tiểu học Hợp Đức. Địa chỉ : Tổ dân phố Bình Minh – Hợp Đức – Đồ Sơn – Hải Phòng I. Mô tả giải pháp đã biết :
- Trong môn Tiếng Việt bốn kỹ năng “Đọc, viết, nói và nghe” là những kỹ năng cần thiết nhất của học sinh. Bốn kỹ năng đó không thể thiếu trong nhà trường cũng như trong cuộc sống. Chương trình GDPT 2018 đã đưa kỹ năng đọc lên hàng đầu trong bốn kỹ năng đó. Đọc giúp các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng giao tiếp và học tập. Vì thế mỗi học sinh đã rèn luyện cho bản thân kỹ năng đọc tốt nhằm góp phần đạt kết quả cao hơn trong quá trình thu nhận kiến thức ở trường học cũng như trong cuộc sống. Vậy để học sinh có kỹ năng đọc tốt thì bản thân người giáo viên phải luôn tìm tòi, học hỏi và áp dụng nhiều biện pháp rèn đọc cho học sinh trong các giờ dạy cũng như trong các hoạt động giáo dục. Bản thân tôi trong quá trình giảng dạy đã tìm hiểu, nghiên cứu một số sáng kiến của các thầy cô cùng khối lớp đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn đọc cho học sinh như: Rèn kỹ năng đọc cho học sinh trong các giờ dạy đọc là giáo viên luôn thực hiện việc đọc mẫu. Rèn kỹ năng đọc trong hoạt động đọc đúng là rèn phát âm cho học sinh. Rèn kỹ năng đọc trong hoạt động luyện đọc lại là giúp học sinh đọc hay hơn. Bên cạnh đó giáo viên cũng kết hợp các hình thức động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời để giúp các em phấn khởi hơn. Các biện pháp nêu trên bản thân tôi đã áp dụng và thực hiện thường xuyên trong các hoạt động dạy học. Tôi nhận thấy những biện pháp trên có những ưu điểm và cũng có những hạn chế như sau: * Ưu điểm Các biện pháp đã phần nào đáp ứng được mục tiêu của chương trình giáo dục hiện nay đó là đặt kỹ năng đọc lên hàng đầu. Kỹ năng đọc của học sinh đã thu được kết quả tốt hơn, đọc lưu loát, phát âm chuẩn hơn và bước đầu cảm nhận được cái hay cái đẹp trong ngôn từ của từng bài đọc. Bên cạnh đó học sinh mạnh dạn và tự tin hơn trong học tập và giao tiếp. Các biện pháp đảm bảo tính phù hợp với lứa tuổi của học sinh tiểu học. Các em đã xác định được tầm quan trọng của việc đọc là để chiếm lĩnh kiến thức, để học tập các môn học khác, để giao tiếp hằng ngày. Các em cũng biết được hậu quả của việc đọc chậm, đọc chưa lưu loát và phát âm sai làm cho người nghe hiểu sai, từ đó sẽ làm mất đi ý nghĩa của câu, từ và nội dung bài đọc. Phụ huynh đã biết quan tâm đến việc học tập của con em mình, trao đổi với thầy cô về cách học tập của con và cách dạy con ở nhà. * Nhược điểm Các tình huống ứng xử trong giao tiếp chưa thực sự linh hoạt nên hiệu quả chưa cao. Học sinh sử dụng vốn từ còn hạn chế hay các tình huống chưa diễn ra trong thực tế nên các em còn lúng lúng, diễn đạt chưa rõ ràng. Một vài hoạt động chưa thực sự tạo ra một môi trường vui tươi thoải mái và hiệu quả cho học sinh. Một khi áp dụng quá cứng nhắc sẽ khiến các em chưa thực sự tự tin mỗi khi trình bày ý kiến.
- Việc không linh hoạt vận dụng và kết hợp tối đa các ưu điểm của các biện pháp sẽ không quan tâm sâu sát đến từng đối tượng học sinh, đặc biệt là các học sinh nhút nhát hay đọc yếu, đọc sai, đọc ngọng dẫn đến tình trạng những học sinh này sợ khi bị yêu cầu đọc. Các em sợ mình đọc còn ấp úng, đọc còn chậm nên càng rụt rè và không dám thể hiện bản thân. Các biện pháp tập trung nhiều vào rèn kỹ năng đọc trong giờ dạy đọc mà chưa chú trọng đến việc tìm tòi, khám phá, sưu tầm các bài đọc, câu chuyện liên quan đến chủ đề, chủ điểm trong các hoạt động đọc mở rộng của học sinh. II. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến : 1. Nội dung giải pháp: Trong cuộc sống không thể thiếu hoạt động giao tiếp. Thiết thực nhất đó là ngay trong chương trình giáo dục phổ thông, nếu học sinh không biết đọc thì sẽ không thể hoàn thành được các yêu cầu cần đạt của chính môn học cũng như tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy học sinh lớp 2, trong suốt quá trình dạy học bản thân tôi đã phát huy hết những ưu điểm của các biện pháp trên, thường chuyên khắc phục các hạn chế và đã đưa ra được những biện pháp tối ưu nhất để áp dụng trong qua trình giảng dạy cho bản thân cũng như giúp học sinh đạt được kết quả tốt nhất trong học tập. Nhận thấy được tầm quan trọng và vai trò của việc rèn đọc cho học sinh để đáp ứng với đổi mới của chương trình giáo dục 2018. Tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn đọc cho học sinh lớp 2 theo chương trình GDPT 2018. Các biện pháp được tôi áp dụng, tôi xin chia sẻ mong nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đồng nghiêp: 1.Biện pháp thứ nhất: Khảo sát phân loại học sinh, phát huy vai trò “ Đôi bạn cùng tiến” , “Nhóm bạn cùng học”. Việc trước tiên, ngay đầu năm học, tôi gặp gỡ với giáo viên chủ nhiệm năm lớp 1 để trao đổi bước đầu nắm bắt được tình hình học tập và khả năng đọc của từng em. Tiếp đó, tôi tiến hành kiểm tra các em về đọc thành tiếng và đọc hiểu kiến thức trong bài để nắm rõ từng đối tượng, từng nhóm học sinh. Kết quả kiểm tra, khảo sát phân loại của năm học 2022-2023 như sau: Sĩ số Khả năng đọc Số học sinh Tỷ lệ HS Đọc hay, lưu loát 8 em 21% Đọc đúng 14 em 37% 38 Đọc chậm 8 em 21% Đọc đánh vần từng chữ 8 em 21%
- Sau khi điều tra, khảo sát phân loại học sinh, tôi xác định biện pháp rèn luyện cho riêng từng em, từng nhóm. Cụ thể: Nhóm thứ nhất: Gồm những em đọc to, rõ ràng, lưu loát. Những em này thường rất tự tin, mạnh dạn trình bày trước lớp, tích cực giúp bạn nên trong mỗi giờ học, tôi thường giao nhiệm vụ cao hơn như đọc diễn cảm hay đọc phân vai. Tôi lấy các em đó làm nhân tố điển hình để nêu gương cho các bạn trong lớp. Nhóm thứ hai: Gồm những em chưa thực hiện được xuất sắc các kỹ năng, năng lực, phẩm chất như các em của nhóm một. Có thể các em đọc to nhưng chưa lưu loát hoặc đọc trôi chảy nhưng còn nhỏ . Cũng có thể kỹ năng đọc tốt nhưng thường nhút nhát hoặc ngại thể hiện nơi đông người.... Do đó, giáo viên cần có sự khích lệ và khen ngợi để các em bạo dạn thoát ra khỏi vòng an toàn. Nhóm thứ ba: Gồm các em còn gặp khó khăn khi đọc bài. Các em đọc chậm còn phải đánh vần, đọc ê a kéo dài, ... thực sự nhút nhát, rụt rè trong mọi hoạt động,không dám thể hiện hành vi, lời nói trước đông người. Trong ba nhóm này tôi đã quan tâm đặc biệt đến nhóm thứ ba. Tôi dành thời gian nhiều hơn trong các hoạt động, nắm được cụ thể từng em hay mắc lỗi sai gì khi đọc để có những lời nhận xét, góp ý cụ thể đưa ra biện pháp khắc phục kịp thời giúp học sinh tiến bộ hơn sau mỗi lần đọc và đặc biệt phải khích lệ động viên, không chê trách các em. Ví dụ: Ở nhóm ba có em Đạt khi đọc hay thiếu dấu thanh, em Thu, An phát âm chưa đúng âm đầu l/n, em Nguyệt, Phúc hay đọc sai vần an/ ang; ươn/ ương; iêc/iêt Đối với những em này tôi yêu cầu đọc lại câu vừa đọc, rèn phát âm l/n, hoặc tôi đọc lại phân biệt các vần có tiếng học sinh vừa đọc sai và nêu cách đoc như khi đọc vần “an” em lấy răng đè lưỡi chặn luồng hơi phát ra còn đọc vần “ang” em đọc mở to miệng để luồng hơi phát ra Tôi hướng dẫn cụ thể và luôn nhắc nhở học sinh về nhà rèn luyện nhiều hơn. Với việc khảo sát, phân loại nắm được đặc điểm của từng nhóm, từng em tôi đã giúp học sinh khắc phục được lỗi hay sai và tiến bộ rõ rệt. Sau khi khảo sát, phân loại học sinh xong tôi bắt đầu triển khai mô hình học tập “Đôi bạn cùng tiến” “Nhóm bạn cùng học” nhằm chia sẻ, giúp đỡ nhau trong học tập và cùng nhau tiến bộ. Trong mỗi nhóm sẽ có ít nhất một em thuộc nhóm thứ nhất và tôi phân công em đó là nhóm trưởng. Các em đó được tôi khuyến khích thực hiện vai trò như một cô giáo, thầy giáo “tí hon” để chỉ bảo, hướng dẫn giúp bạn đọc bài. Chẳng hạn như vào các hoạt động đọc nhóm đôi hoặc nhóm bốn, các em đọc tốt sẽ đọc trước để bạn lắng nghe và học tập cách đọc bài của bạn, cũng có thể bạn đọc chưa tốt sẽ đọc trước để bạn đọc tốt giúp đỡ, sửa cho nhau. Tôi dành thời gian để bao quát, quan sát các nhóm, có cơ hội sát sao đến từng học sinh ở nhóm thứ ba. Kết thúc hoạt động nhóm, các nhóm trưởng sẽ báo cáo kết quả học tập của nhóm mình bạn nào đọc tốt, bạn nào có tiến bộ, bạn còn sai lỗi nào em đã giúp bạn chưa hay nhờ cô giáo giúp đỡ bạn về cách phát âm hay ngắt nghỉ, . Kết quả của hoạt động đó được tôi ghi nhận và đánh giá cao tinh thần tự học, hợp tác của các em và cùng với
- những lời động viên, khen ngợi, tuyên dương kịp thời. Mô hình học tập “Đôi bạn cùng tiến” “Nhóm bạn cùng học” các em thường xuyên thực hiện vào 15 phút ôn bài đầu giờ cho các môn học khác, tôi nhận thấy giải pháp này đã phát huy một cách hiệu quả. 2. Biện pháp thứ hai: Tổ chức “ Trò chơi học tập” và tạo hứng thú trong giờ học Trò chơi học tập là một hình thức rất phù hợp với tâm lí lứa tuổi của học sinh Tiểu học. Trong các tiết học, hoạt động khởi động là mở đầu, hoạt động này học sinh được huy động hiểu biết, được trải nghiệm, có cảm xúc tích cực để chuẩn bị tiếp nhận nội dung văn bản đọc. Vì vậy một trong những cách tạo hứng thú cho học sinh là giáo viên phải tổ chức linh hoạt, đổi mới các hoạt động khởi động, tạo không khí háo hức, sôi nổi giúp học sinh có tâm thế thoải mái cho các hoạt động tiếp theo. Chẳng hạn như, giáo viên sẽ chuẩn bị tranh ảnh và sưu tầm các câu thơ, ca dao, tục ngữ, hò vè, bài hát, vật thật để gợi mở, dẫn dắt vào bài một cách tự nhiên, gần gũi. Giáo viên lồng ghép các yêu cầu về đọc thành tiếng, đọc - hiểu hay giải nghĩa từ về những phần kiến thức của bài đọc tiết trước hoặc bài đọc tiết này vào các câu hỏi của trò chơi. Thông qua trò chơi này, học sinh vừa có thể ôn lại kiến thức cũ hoặc tiếp nhận thêm kiến thức mới một cách chủ động, mới mẻ và đầy hào hứng. Ví dụ: Tôi áp dụng trò chơi học tập Ô cửa bí mật vào hoạt động Khởi động của bài đọc Cây xấu hổ (SGK Tiếng Việt 2, tập 1 trang 31). Với các câu hỏi để học sinh trả lời nhằm vừa củng cố kiến thức bài trước là bài Một giờ học, vừa dẫn dắt vào bài mới một cách đầy tò mò và thú vị như sau: Câu hỏi 1: Em hãy đọc một đoạn em thích trong bài Một giờ học. Câu hỏi 2: Từ lúng túng có nghĩa là gì? Câu hỏi 3: Cái gì một cặp song sinh Long lanh sáng tỏ để nhìn xung quanh? Câu hỏi 4: Cây gì có tên người cười, Hễ ai chạm phải đang tươi héo liền? Bức tranh của Ô cửa bí mật là bức tranh minh họa của bài đọc Cây xấu hổ. Sau đó tôi dẫn dắt vào bài học. Không chỉ ở hoạt động Khởi động mà ở các hoạt động khác giáo viên cũng có thể thay đổi hình thức tổ chức trò chơi sao cho phù hợp với bài học hay tình hình lớp học cũng sẽ khiến học sinh hứng khởi, mong chờ hơn khi học tập. Chẳng hạn như, giáo viên tổ chức chơi theo đội để tạo không khí thi đua, tính tập thể, đoàn kết, gắn bó.... Hoặc là chơi cá nhân để tạo cơ hội cho nhiều đối tượng học sinh cùng có cơ hội để tham gia học tập, phát huy tính chủ động, linh hoạt, mạnh dạn, tự tin.... Ví dụ: Ở bài Yêu lắm trường ơi!( SGK Tiếng Việt 2/ tập 1 trang 56) hoạt động Luyện tập theo văn bản, tôi tổ chức trò chơi Ai nhanh ai đúng. Hai đội
- chơi lên tham gia gắn từ ngữ cột A với cột B để tạo câu nêu đặc điểm. Học sinh sẽ rất hứng thú tham gia đội chơi sôi nổi, tích cực. Hoặc ở bài Gọi bạn ( SGK Tiếng Việt 2/ tập 1 trang 79) hoạt động Trả lời câu hỏi, tôi tổ chức trò chơi Rung chuông vàng với nội dung các câu hỏi SGK, học sinh tham gia trả lời các câu hỏi bằng cách viết đáp án vào bảng con, mỗi câu trả lời đúng các em sẽ được thưởng một sao. Đối với hoạt động đọc nối tiếp đoạn tôi có thể tổ chức trò chơi: Đọc truyền điện. Đầu tiên chọn một học sinh đọc đoạn, đọc xong học sinh chỉ định bạn đọc đoạn tiếp theo đọc, làm như thế học sinh ở trong trạng thái chủ động và mong được bạn gọi đọc. Trong các tiết ôn tập, tôi tổ chức bốc thăm bài đọc bằng trò chơi Hái hoa dân chủ, em nào hái được bông hoa nào sẽ đọc yêu cầu ghi trong bông hoa ấy. Sau khi học sinh đọc xong sẽ bình bầu bạn đọc tốt, bạn có tiến bộ và cố gắng. Như vậy, trong các tiết học giáo viên cần khơi dậy hứng thú cho học sinh bằng nhiều cách, tạo không khí lớp học vui tươi, thoải mái giúp học sinh sẵn sàng tâm thế vui vẻ, hào hứng thì chắc chắn việc tiếp thu kiến thức đối với học sinh sẽ đạt được hiệu quả cao nhất. Đây là biện pháp mà được tôi áp dụng xuyên suốt trong các tiết học. Tôi nhận thấy, học sinh cả lớp đều hứng thú và chú ý hơn qua các trò chơi. Từ đó, giúp các em có sự tập trung, lắng nghe từ các bạn cũng như được tham gia học tập và có cơ hội thể hiện bản thân. 3.Biện pháp thứ ba:Thực hiện tốt các bước lên lớp trong giờ dạy Đọc. Để một tiết đọc thành công người giáo viên phải thực hiện tốt các bước lên lớp trong giờ dạy đọc. Trước tiên, việc đọc mẫu của giáo viên là trực quan sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn và gây hứng thú cho học sinh. Khi đọc người giáo viên đọc đúng, đọc chuẩn, đọc rõ ràng, trôi chảy, mạch lạc, ngắt nghỉ hơi đúng, nhấn giọng đúng những từ gợi tả, gợi cảm. Giáo viên cũng cần chú ý biểu lộ ngôn ngữ cơ thể (hành động, cử chỉ, nét mặt, thái độ...) của mình để làm nổi bật hình ảnh, tính cách của nhân vật mà tác giả thể hiện trong bài. Để đọc mẫu có hiệu quả tôi phải phải nghiên cứu từng bài đọc, giọng đọc đúng phù hợp với nội dung văn bản. Sau đó tôi luyện đọc đi đọc lại nhiều lần cho thật có hồn và diễn cảm. Trước khi đọc mẫu tôi đứng giữa lớp, yêu cầu học sinh nghiêm túc lắng nghe, theo dõi và đọc thầm theo. Có đoạn tôi dừng lại bao quát lớp hoặc đặt câu hỏi gợi mở cho đoạn tiếp theo để gây tò mò, kích thích sự lắng nghe của học sinh. Tất cả những việc làm mẫu của giáo viên nhằm mục đích để học sinh bắt chước theo. Đó chính là con đường ngắn nhất để các em hình thành kỹ năng đọc đúng đọc hay, đọc diễn cảm. Ví dụ: Bài 3: Niềm vui của Bi và Bống. ( sách Tiếng Việt 2/ trang17) Giọng đọc mẫu to, rõ ràng , nhấn giọng “ Đẹp quá!”, “ bảy hũ vàng”, “ đủ màu sắc”, giọng đọc thể hiện sự hồn nhiên ngây thơ của hai anh em Bi và Bống. Khi đọc hết đoạn 1, tôi có thể đặt câu hỏi gợi mở đoạn 2: Vậy hai anh em có thực hiện được ước mơ của mình không các em nghe cô đọc tiếp nhé! Trong quá trình dạy đọc cho học sinh giáo viên cần chú trọng đến các
- kỹ năng: Đọc đúng (kết hợp với luyện đọc từ khó, giải nghĩa từ). Đọc đoạn (đọc trơn). Đọc hiểu ( nắm nội dung bài). Đọc toàn bài (đọc diễn cảm), đọc ngắt nghỉ, nhấn giọng đúng. Giáo viên cần linh hoạt thực hiện các bước sao cho đảm bảo việc rèn kỹ năng đọc phù hợp với từng đối tượng học sinh. Cụ thể như: + Đọc đúng: Luyện đọc câu: cần chú trọng đến các em gặp khó khăn vì đây là bước đọc vỡ văn bản. Số lượng tiếng từ ít hơn so với khi đọc đoạn nên các em dễ dàng nhận ra lỗi đọc sai, giáo viên chú ý sửa lỗi phát âm cho cá nhân, nhóm, lớp. Hoạt động này giúp sửa sai triệt để và hiệu quả cho học sinh vì đây là hoạt động cá nhân trong giờ dạy đọc. Ví dụ: Bài Tôi là học sinh lớp 2 (SGK Tiếng Việt 2/ tập 1 trang 10) Luyện đọc câu: Ngay cạnh chúng tôi/ mấy em lớp 1 đang rụt rè/ níu chặt tay bố mẹ/ thật giống tôi năm ngoái. Trong câu này tôi chú trọng rèn phát âm địa phương, âm l/n “níu, năm”, giải nghĩa từ: “níu” và rèn ngắt giọng vì đây là một câu dài. Ngắt giọng đúng sẽ giúp các em lĩnh hội được kiến thức dễ dàng hơn, giúp người nghe hiểu ngay ý cần diễn đạt. Việc rèn câu sẽ giúp các em đọc đoạn, bài tốt hơn. Việc giải nghĩa của từ giúp học sinh phần nào hiểu được nội dung của bài đọc. + Đọc đoạn, đọc toàn bài là sự kết hợp giữa hoạt động cá nhân, nhóm và cả lớp. Ở bước này học sinh đã được rèn đọc câu tốt, phát âm đúng, biết ngắt nghỉ sau dấu câu và câu dài. Học sinh sẽ đọc bài một cách chủ động, to, rõ ràng, thể hiện được giọng đọc tốt. Khi đọc đoạn hay đọc toàn bài, tôi thường tổ chức cho học sinh đọc cá nhân, đọc nối tiếp đoạn theo nhóm. Hoặc tôi mời các tổ cùng thi đua đọc, sau đó cả lớp bình chọn tổ nào đọc tốt nhất. Các em sẽ cố gắng thi đua, thể hiện hết mình trước lớp. Kết quả của hoạt động đó được tôi ghi nhận và đánh giá cao tinh thần tự học, hợp tác, bày tỏ ý kiến, thể hiện năng lực bản thân. Ví dụ: Bài 8: Cầu thủ dự bị (SGK Tiếng Việt 2/tập 1 trang 34). Tôi giúp học sinh nắm được giọng đọc toàn bài như : Ngoài đọc to, rõ ràng thì giọng đọc gấu lúc đầu buồn nhưng thể hiện quyết tâm, ở đoạn sau đọc giọng vui vẻ, bộc lộ cảm xúc của các nhân vật Học sinh xác định được giọng đọc và nội dung bài đọc phù hợp với hoạt động vui chơi của lứa tuổi các em nên việc thể hiện bài đọc của học sinh đạt hiệu quả rất cao. + Đọc hiểu ứng với việc học sinh nắm nội dung văn bản. Tôi nhận thấy kỹ năng đọc hiểu của các em còn hạn chế cho nên nắm bài chưa sâu, trả lời các câu hỏi chưa rõ ràng, đủ ý hay chưa biết lựa chọn ý trong bài để trả lời. Vậy để giúp học sinh hiểu bài và trả lời đúng các câu hỏi, giáo viên cần cho học sinh đọc thầm lại nội dung bài đọc, tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm nội dung các câu hỏi hoặc giáo viên có thể đặt thêm một đến hai câu hỏi nhỏ gợi mở để giúp học sinh tả lời đúng ý các câu hỏi trong bài. Việc học sinh được đọc thầm, thảo luận, chia sẻ kết quả giúp học sinh hiểu bài tốt hơn.
- Ví dụ: Bài 3: Niềm vui của Bi và Bống(SGK Tiếng Việt 2/ tập 1/ trang 18) Tôi cho học sinh đọc thầm toàn bài, thảo luận nhóm bốn nội dung các câu hỏi trong bài. Câu hỏi 1: Nếu có bảy hũ vàng, Bi và Bống sẽ làm gì?. Trước khi hỏi câu này, tôi có thể đặt câu hỏi nhỏ: Khi nhìn thấy cầu vồng, Bi nói gì với Bống? Hoặc Theo em vì sao hai anh em không tự vẽ đồ chơi cho mình? Ví dụ: Bài 19: Chữ A và những người bạn(SGK Tiếng Việt 2/ trang 86). Tôi yêu cầu học sinh đọc thầm toàn bài thảo luận nhóm 4 nội dung các câu hỏi trong bài. Sau đó tôi tổ chức trò chơi: “Ai nhanh ai đúng” để tìm hiểu nội dung bài. Khi nắm được nội dung bài, các em sẽ cảm nhận và thể hiện đọc văn bản một cách hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, việc đọc thầm tốt giúp học sinh có thể học tốt các môn học khác cũng như vận dụng hiểu biết văn bản vào thực tiễn. Đọc diễn cảm là bước luyện đọc lại, đây là kết quả của quá trình thực hiện các bước rèn đọc trước đó. Sau khi học sinh đã nắm được cách đọc đúng và ngắt nghỉ thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhấn giọng ở một số từ ngữ gợi tả, gợi cảm, lời nhân vật cho phù hợp, . Đây là cơ hội cho học sinh trình bày toàn bộ văn bản, học sinh sẽ đọc tốt hơn, hay hơn hoặc học sinh có thể đọc phân vai để có cơ hội hóa thân vào các nhân vật trong câu chuyện vừa học. Ở bước này học sinh đều nêu được giọng đọc của bài, phân biệt lời nhân vật học sinh sẽ đọc tốt, đọc hay hơn và thích thú khi được thể hiện các nhân vật trong bài. Có thể nói học sinh không những đã đạt được kỹ năng đọc ở mức độ cao mà còn cảm thụ được nội dung ý nghĩa, cái hay, cái đẹp của bài đọc. Ví dụ: Bài 5: Em có xinh không?( SGK Tiếng Việt 2/trang 24). Sau khi nắm được nội dung bài học. Tôi có thể đặt câu hỏi: Giọng đọc voi anh, voi em đọc như thế nào? Câu chuyện có mấy nhân vật? Em có muốn hóa thân vào các nhân vật trong bài không? Sau khi học sinh đọc tốt và nắm được nội dung bài thì hoạt động luyện tập theo văn bản là một hoạt động luyện tập, thực hành rất thiết thực. Ở hoạt động này dựa vào nội dung bài đọc, các em được luyện tập tổng hợp kiến thức về mẫu câu, các từ loại và được thực hành các tình huống trong bài hay tình huống trong thực tế cuộc sống như đóng vai một nhân vật trong bài để đưa ra cách giải quyết cho nhân vật.... Thông qua hoạt động này học sinh mạnh dạn, tự tin chia sẻ ý kiến, biết vận dụng những kiến thức vào thực tế cuộc sống. Qua thực hành học sinh được phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp. Ví dụ: Bài Một giờ học (SGK Tiếng Việt tập 1/trang 28) Đóng vai các bạn và Quang nói và đáp lời khen khi Quang trở nên tự tin. Hoặc Bài Gọi bạn (SGK Tiếng Việt tập 1/ trang 80) Đóng vai một người bạn trong rừng, nói lời an ủi dê trắng. Như vậy, trong quá trình dạy các tiết Đọc giáo viên cần đảm bảo các bước
- trên thì hiệu quả rèn đọc cho học sinh sẽ được nâng cao rõ rệt. Đó cũng là mục tiêu cần đạt của việc dạy đọc đối với học sinh lớp 2 theo Chương trình GDPT 2018. 4. Biện pháp thứ tư : Phối kết hợp với phụ huynh học sinh phát huy khả năng tự học cho học sinh. Sau mỗi bài học tôi thường dặn dò các em chuẩn bị đồ dùng liên quan đến bài sau. Ngoài ra, tôi còn trao đổi với PHHS trên nhóm để phụ huynh nhắc nhở nếu các em có quên. Việc làm này là một động lực rất lớn để các em tăng thêm ý thức tự giác, tự nghiên cứu và đạt hiệu quả cao trong quá trình học. Ví dụ: + Bài đọc Em học vẽ (SGK Tiếng Việt 2/tập 1 trang 58), hoạt động khởi động để giới thiệu được một bức tranh em yêu thích nhất thì học sinh phải chuẩn bị trước một bức tranh và hôm sau mang đến lớp để chia sẻ trước lớp . + Bài Sự tích cây thì là (SGK Tiếng Việt 2/ tập 2 trang 46), hoạt động khởi động, nói về một loài cây em biết. Tôi yêu cầu học sinh mang đến lớp mỗi em một loại cây để cùng nhau chia sẻ về loại cây đó. Khả năng tự học của học sinh còn được thể hiện qua các giờ Đọc mở rộng. Đọc mở rộng theo sát từng chủ điểm trong sách giáo khoa với mục đích giúp học sinh có ý thức “mở rộng” nhằm khai thác sâu hơn chủ điểm đang học và khám phá, tìm hiểu thêm những bài đọc cùng chủ đề, chủ điểm bên ngoài sách giáo khoa hoặc có thể tự sáng tác ra một đoạn thơ, bài thơ gắn liền với thực tế cuộc sống diễn ra hằng ngày. Việc làm đó bước đầu tạo cho học sinh có thói quen tích cực về văn hóa đọc, biết tra cứu thông tin, sử dụng phiếu đọc và sưu tầm, sáng tác bài đọc phù hợp với chủ điểm. Để tìm tòi các bài đọc liên quan đến chủ điểm thì rất cần sự phối kết hợp của phụ huynh học sinh. Phụ huynh có thể tìm mua cho các con mình các loại sách, truyện, thơ, báo văn tuổi thơ liên quan đến chủ điểm bài đọc hoặc phụ huynh có thể cùng con tra cứu thông tin, sưu tầm bài đọc qua mạng Internet. Ví dụ: + Với Chủ điểm Em lớn lên từng ngày. Tiết Đọc mở rộng yêu cầu: Tìm đọc một bài thơ hoặc câu chuyện viết về trẻ em làm việc nhà. Đọc cho các bạn nghe một đoạn em thích. + Hoặc với Chủ điểm Đi học vui sao. Tiết Đọc mở rộng yêu cầu: Ghi chép các thông tin về cuốn sách mà em đã đọc vào phiếu đọc sách theo mẫu. PHIẾU ĐỌC SÁCH Ngày: .. Tên sách: . Tên tác giả: .. Điều em thích nhất:
- Sau đó nói về điều em thích nhất trong cuốn sách đã đọc. Qua việc học sinh được trực tiếp tham gia chuẩn bị đồ dùng trực quan, phải sưu tầm, tìm tòi bài đọc đúng với chủ điểm, tôi thấy học sinh rất háo hức mong chờ đến tiết học để được chia sẻ với các bạn và thầy cô. Đây cũng là một hình thức để tổ chức cho hoạt động chia sẻ về chủ điểm, mở đầu tiết học thêm hấp dẫn mới lạ, thu hút, gây hứng thú hơn cho học sinh và tăng sự yêu thích của học sinh với môn học. Ngoài ra, để có thể chuẩn bị những tranh ảnh hoặc vật thật, tìm kiếm, sưu tầm các câu chuyện, bài đọc liên quan đến chủ điểm học sinh sẽ thích thú đọc bài trước ở nhà và tìm hiểu bài đọc để hôm sau đến lớp chia sẻ cùng bạn. Điều đó sẽ hình thành cho học sinh ý thức tự giác, phát triển năng lực tự học, tự chủ và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Bên cạnh đó, tôi thường xuyên thông báo tình hình học tập của học sinh cho gia đình biết để phụ huynh quan tâm, theo sát, động viên các con qua việc gọi điện thoại, cũng có khi đến thăm gia đình học sinh, gặp gỡ trao đổi trực tiếp. Phụ huynh là người sẽ sát cánh bên giáo viên, thay giáo viên hỗ trợ các em khi học ở nhà. Ví dụ: Sau tiết đọc ở lớp, tôi hỏi học sinh có muốn nghe giọng đọc của mình như thế nào không? Vậy để thực hiện được điều đó các con hãy đọc thật tốt và nhờ bố mẹ quay lại video và gửi cho cô. Tôi dành thời gian nghe các con đọc, chọn video đọc hay mở cho học sinh nghe vào buổi học sau. Đối với học sinh đọc chưa tốt tôi trao đổi với phụ huynh để rèn đọc cho con đọc tốt hơn. Thực hiện biện pháp có sự phối hợp với phụ huynh, tôi nhận thấy hiệu quả đọc đã có chuyển biến tích cực và các em đều có ý thức tự học, tự tìm tòi, sưu tầm bài đọc. 2. Tính mới, tính sáng tạo : Các biện pháp đưa ra đã nâng cao hiệu quả rèn đọc rõ rệt, giúp các em hình thành được kỹ năng đọc tốt, đọc hay. Các em có thói quen tự học, tự đọc sẽ chiếm lĩnh được kiến thức trong các môn học cũng như trong cuộc sống. Học sinh có khả năng tìm tòi, tra cứu các bài đọc đúng chủ đề, chủ điểm trong các tiết đọc và hoạt động giáo dục. Ngoài khả năng tìm tòi, sưu tầm bài đọc các em còn có khả năng sáng tác ra đoạn thơ, bài thơ phù hợp với chủ đề, chủ điểm của bài học. Các em háo hức muốn thể hiện bài đọc của mình trước bạn bè, thầy cô. Điều đó cho thấy học sinh chiếm lĩnh được tri thức và thực sự làm chủ được bài đọc. Các hoạt động giáo dục linh hoạt tạo hứng thú cho học sinh học tập thoải mái, vui tươi như học mà chơi, chơi mà học. Các em không cảm thấy gò bò, sợ sệt mà thay vào đó là mạnh dạn, tự tin thể hiện bản thân một cách hào hứng, sôi nổi và phát huy được tính tích cực trong học tập. Những tình huống giao tiếp gần gũi, phù hợp với thực tế ở lớp học, gia đình, bạn bè nên các em đưa ra cách ứng xử phù hợp, thiết thực. Những tràn pháo tay, lời khen ngợi, động viên hay
- món quà học tập nhỏ sẽ tạo động cơ cho các em tự nỗ lực phấn đấu hoàn thiện hơn mỗi ngày. Biện pháp đã góp phần vào việc giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách. Từ đó, học sinh thích đọc và thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ và phát triển. Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin các em đã biết sử dụng điện thoại thông minh tra cứu bài đọc, tự quay video về bài đọc của mình. 3. Khả năng áp dụng, nhân rộng Những biện pháp trên dễ áp dụng không những chỉ đối với một giáo viên cụ thể nào mà có thể áp dụng với các giáo viên. Đồng thời các biện pháp này cũng không chỉ áp dụng ở một khối lớp, mà có thể áp dụng cho các khối lớp và ở nhiều cấp học khác nhau. Biện pháp này không những chỉ áp dụng trong trường học mà còn có thể áp dụng mọi lúc, mọi nơi ngay trong giao tiếp và trong cuộc sống . 4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp 4.1. Hiệu quả kinh tế : Tiết kiệm thời gian của giáo viên trong việc chuẩn bị giáo cụ mà giờ học đạt hiệu quả cao hơn. Học sinh chỉ cần dành ra ít thời gian chuẩn bị, nghiên cứu, sưu tầm bài đọc ở sách, báo, mạng internet và đọc bài trước ở nhà giúp các em đọc tốt, đọc hay hơn vào những giờ học trên lớp. Tiết kiệm kinh tế một cách tối đa cho giáo viên vì không cần phải mua sắm, trang bị cầu kì đồ dùng học tập. 4.2. Hiệu quả về mặt xã hội : Giúp các em có vốn kiến thức và tự tin giao tiếp với thầy cô, bạn bè, gia đình và xã hội, chủ động lĩnh hội các kiến thức thuộc các lĩnh vực khác nhau : Khoa học – kĩ thuật, kinh tế - xã hội, y học Tạo được môi trường học tập nhẹ nhàng, đoàn kết giúp các em xóa bỏ được cảm giác rụt rè, ngại ngùng trước mọi người và thêm mạnh dạn, tự nhiên hơn. Các em biết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xóa đi khoảng cách giữa các học sinh, các em học sinh yếu không cảm thấy ngại ngùng trước các bạn. Từ đó, giúp học sinh phát triển hơn về vốn từ và cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, làm giàu kiến thức về ngôn ngữ nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ và tư duy cho học sinh. Bên cạnh đó còn giúp những em có kĩ năng giao tiếp tốt sẽ có cơ hội thể hiện bản thân trước bạn bè, gia đình và xã hội. 4.3. Giá trị làm lợi khác : Giúp học sinh tích cực hơn trong học tập, mạnh dạn tự tin hơn khi tham gia các hoạt động từ đó dần hoàn thiện mình trong giao tiếp.
- Giúp học sinh có ý thức tìm đọc nhiều tác phẩm văn học, nhiều cuốn sách, truyện... Từ đó giúp các em thêm yêu sách. Biết yêu các giá trị nhân văn trong mỗi ngôn từ. Điều đó sẽ hình thành cho các em những phẩm chất tốt đẹp, bồi dưỡng tâm hướng thiện, biết yêu cái đẹp cũng như mở rộng tầm hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, cuộc sống và con người. CƠ QUAN ĐƠN VỊ TÁC GIẢ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (Ký tên) (xác nhận) ................................................................. ................................................................. ................................................................. ................................................................. Nguyễn Thị Bình .................................................................
- XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH SÁNG KIẾN QUẬN ĐỒ SƠN

