Em hãy chép lại và phân tích vẻ đẹp nội dung và các biện pháp nghệ thuật của bài thơ Nam quốc sơn hà.

Đánh giá bài viết

Đề bài: Em hãy chép lại và phân tích vẻ đẹp nội dung và các biện pháp nghệ thuật của bài thơ Nam quốc sơn hà.

Loading...

Nếu Nam quốc sơn hà được coi là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên thì Phò giá về kinh của Trần Quang Khải được coi là khúc khải hoàn đầu tiên! Bài thơ hừng hực khí thế chiến đấu và chiến thắng của dân tộc, tràn ngập niềm hân hoan đất nước được giải phóng, sâu nặng cái tâm của một người lãnh đạo trong cảnh đất nước thanh bình. Tất cả những điều ấy được thể hiện một cách trọn vẹn, cô đúc trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt mà niềm tự hào tràn ngập mỗi câu, mỗi chữ.

Phiên âm chữ Hán:

Đoạt sáo Chương Dương độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan.

Thái Bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.

Dịch thơ:

Chương Dương cướp giáo giặc

Loading...

Hàm Tử bắt quân thù.

Thái Bình nên gắng sức,

Non nước ấy ngàn thu.

(Trần Trọng Kim dịch)

Ngay từ hai câu đầu của bài thơ, Trần Tuấn Khải đã nhắc tới hai địa danh nổi tiếng, nơi ghi dấu hai chiến công oanh liệt của quân và dân ta chống lại kẻ thù xâm lược Nguyên – Mông. Cũng có nghĩa là lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca, địa danh đất Việt vang lên kiêu hãnh và tự hào đến thế. Lịch sử hào hùng đang được tái hiện lại. Tháng 8 năm Ất Dậu (1285) tại bến Chương Dương (bến sông nằm ở hữu ngạn sông Hồng, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) quân và dân ta dưới sự chỉ huy trực tiếp của thượng tướng Trần Quang Khải đã đuổi đạo quân Thoát Hoan trở về phương Bắc. Tháng tư năm đó, ở cửa Hàm Tử (một địa điểm ở tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Khoái Châu, tĩnh Hưng Yên) dưới sự hỗ trợ đắc lực của Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật chém chết Toa Đô. Thật là những chiến thắng mang tầm lớn lao, có ý nghĩa trọng đại với toàn cục. Nhân dân ta tiêu diệt, bắt sống hàng vạn tên, thu được chiến thuyền, vũ khí và lương thảo, về mặt thời gian, ai cũng nhận thấy trận Hàm Tử diễn ra trước nhưng lại được nhắc tới sau chiến thắng Chương Dương. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu và có thể giải thích đối với thơ ca, với một con người đang sống trong những ngày vui sau chiến thắng Chương Dương vang lừng mang lại. Vấn đề thời gian đã được đặt sau niềm cảm hứng. Cũng có thể chiến công do mình trực tiếp làm chỉ huy, làm thống lĩnh bao giờ cũng ấn tượng và vinh dự hơn! Trong cả hai trận thuỷ chiến ấy, trí tuệ của nhân dân, tinh thần chiến đấu anh dũng của nhân dân… được thể hiện bởi nhịp điệu thơ dồn dập, không khí thơ hào hùng:

Đoạt sáo Chương Dương độ,

Cầm Hồ Hàm Tử quan.

(Chương Dương cướp giáo giặc,

Hàm Tử bắt quân thù.)

Tiếng nước sôi sục, tiếng gươm khua, tiếng giáo mác, tiếng hô xung trận, tiếng trống thúc quân… diễn tả trong đúng mười con chữ. Nghệ thuật đối lập và phép liệt kê mà tác giả sử dụng thật thích hợp. Mỗi chiến thắng là mỗi thành tích khác nhau chỉ gói gọn bởi bốn chữ đoạt sáo và cầm hồ. Rõ ràng, nhà thơ không quá say sưa với niềm vui chiến thắng, không đắm say với chiến công, chẳng có cảnh đầu rơi máu chảy. Hai câu thơ giống lời thông báo về sự độc lập của đất nước ta, sự chính nghĩa đã thuộc về nhân dân ta. Những câu thơ mang âm hưởng anh hùng ca quả là hào hùng và đầy kiêu hãnh.

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.

(Thái bình nên gắng sức,

Non nước ấy ngàn thu.)

Lo cho cuộc sống của nhân dân, lo cho tương lai của đất nước luôn là đức tính cao quý, nguyện vọng chính đáng của những người lãnh đạo anh minh tài ba và nhìn xa trông rộng. Hai câu thơ gợi nhắc đến hai câu của Trần Nhân Tông:

Xã tắc hưởng hồi lao thạch mã

 Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

 Non sông nghìn thuở vững âu vàng)

Vui sống trong cảnh thanh bình không còn giặc giã, không còn máu chảy đầu rơi nhưng chúng ta phải bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng đất nước. Đất nước còn nhiều bề bộn, khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là việc làm khó khăn không kém gì xung trận. Ai cũng biết rằng giành độc lập tự do đã khó, song giữ vững nền độc lập tự do ấy lại càng khó hơn. Vì thế, vị chủ tướng vừa rời chiến trận trở về trên lưng ngựa đã động viên nhân dân và tự nhắc nhỡ mình nên cao ý thức rèn luyện trí lực để không những bảo vệ sự thái bình này mà còn xây dựng đất nước giàu mạnh vững bền. Kết thúc chiến tranh không phải là nghỉ ngơi mà là để tiếp tục cho một vòng quay mới. Hai câu thơ được đặt trong mối quan hệ nhân – quả. Mọi nhà gắng sức, mọi người gắng sức cả dân tộc gắng sức thì mới mong có được sự trường tồn của non nước ấy.

Ý thơ cô đọng, cảm xúc dồn nét. Hào khí Đông Á của một thời lại được sống lại sáng ngời. Đặt trong tương quan với bài thơ Thần, thì Phò giá về kinh quả là lời khẳng định thêm một lần nữa chân lí khách quan không gì thay đổi: nước Việt Nam mãi mãi là của người Việt Nam.