Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp rèn kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh Lớp 1

doc 20 trang Hoàng Oanh 26/11/2025 40
Bạn đang xem tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp rèn kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docdon_cong_nhan_sang_kien_mot_so_giai_phap_ren_ky_nang_noi_tro.doc

Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp rèn kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh Lớp 1

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP ĐỨC BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: “Một số giải pháp rèn kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1” Tác giả : LÊ THỊ THU HÀ Trình độ chuyên môn: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Chức vụ: GIÁO VIÊN- TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN Nơi công tác: TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP ĐỨC. Ngày 25 tháng 12 năm 2023
  2. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Ủy Ban nhân dân quận Đồ Sơn; Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Đồ Sơn; Trường Tiểu học Hợp Đức. STT Họ và Ngày Nơi công Chức danh Trình Tỉ lệ (%) tên tháng tác( hoặc độ đóng góp năm nơi thường chuyên vào việc tạo sinh trú) môn ra sáng kiến 1 Lê Thị 05/08/ Trường Tiểu Tổ trưởng Đại học 100% Thu Hà 1977 học Hợp chuyên sư phạm Đức môn tiểu học Là tác giả đề nghị công nhận sáng kiến: “Một số giải pháp rèn kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1” Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Lê Thị Thu Hà Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 1 và các môn học khác. Không những chỉ vận dụng dạy lớp 1 mà có thể sử dụng dạy các môn ở các khối lớp khác. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng dùng thử: 01/10/2020 Mô tả bản chất của sáng kiến: 1. Tính mới, tính sáng tạo : Các giải pháp trên cho thấy : - Sự yêu nghề, yêu trẻ, tâm huyết của giáo viên được thể hiện rất rõ trong từng việc làm, từng hành động, từng dòng suy nghĩ. Giáo viên nắm bắt được tính tình của từng học sinh, năng lực, điểm mạnh, điểm yếu đồng thời tìm hiểu được các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh chậm nói, chậm tư duy, tăng động, giảm chú ý, nói năng cộc lốc, nói câu lủng củng tối nghĩa, Từ đó, phối hợp với cha mẹ học sinh điều chỉnh các em. - Các giải pháp này ngoài việc giúp học sinh lớp 1 phát triển kĩ năng nói mà còn học tốt các môn học khác và các hoạt động giáo dục. Đặc biệt là giải pháp tạo năng lượng tích cực trong các tiết học, giảm bớt stress của giáo viên, học sinh và cả phụ huynh. - Bên cạnh đó, sáng kiến còn giúp giáo viên cũng như phụ huynh luôn biết
  3. kìm chế, luôn luôn nhẫn nại, từ đó tự điều chỉnh bản thân, đồng thời điều chỉnh chính người thân, đặc biệt là con cái mình. Sáng kiến giúp cho cha mẹ cũng như các con gần nhau hơn, sẵn sàng chia sẻ, đặc biệt là trẻ không nói dối, như vậy dễ dàng hơn trong quá trình quản lí cũng như giáo dục con. Ngoài ra, các giải pháp đã thay đổi suy nghĩ của phụ huynh, hiểu và sẵn sàng tạo điều kiện đầu tư cho giáo dục. Nhiều gia đình các thành viên biết quan tâm đến nhau, gia đình hạnh phúc. Từ đó, hỗ trợ các em rất nhiều trong giao tiếp hàng ngày. - Các giải pháp đã giúp giáo viên và cha mẹ các em phát hiện học sinh tài năng khiếu của con em mình để từ đó bồi dưỡng nhân tài như : Năng khiếu làm MC, Năng khiếu quản li, Năng khiếu vẽ, hát, múa, đàn, Điều đó tạo sợi dây gắn kết chặt chẽ ba môi trường giáo dục Nhà trường- Gia đình và xã hội. - Bên cạnh đó còn giúp trẻ đoàn kết nhất là trong hoạt động nhóm, điều này rất cần thiết cho các con sau này khi các con làm việc, phát minh khoa học, - Các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ và phát triển phẩm chất cho học sinh đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. 2. Khả năng áp dụng, nhân rộng - Các giải pháp này có thể áp dụng thực hiện ở môn Tiếng Việt lớp 1 cũng như các lớp khác. Giải pháp không chỉ bó gọn trong môn Tiếng Việt mà còn còn hỗ trợ rất tốt khi học các môn học khác. - Các giải pháp trên không chỉ áp dụng tại trường Tiểu học Hợp Đức mà còn thực hiện ở tất cả các trường tiểu học khác. 3. Những thông tin cần được bảo mật: không 4. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Các lớp học cần có đầy đủ trang thiết bị để việc Ứng dụng Công nghệ thông tin hiệu quả. - Giáo viên luôn tận tâm, tận lực, không ngại vất vả để hỗ trợ học sinh cũng như phụ huynh để hiệu quả việc rèn nói cho học sinh được tốt hơn. - Người giáo viên phải thực sự yêu nghề, luôn luôn nghiên cứu và tìm ra các hình thức tổ chức dạy học hiệu quả. Ngoài ra, giáo viên tích cực nghiên cứu các kĩ thuật dạy học tích cực để thực hiện cho hiệu quả. Nhất là kĩ thuật rèn ngọng , đây là một trong những kĩ thuật rất khó. - Trong các tiết học cần có nguồn năng lượng tích cực của cả giáo viên và học sinh. - Giáo viên cần chuẩn bị những món quà để khen học sinh hàng ngày: Hoa khen, sticker, đồ dùng học tập, tranh tô màu, Còn phụ huynh cần chuẩn bị những món quà nhỏ, tuỳ điều kiện có thể, hoặc hỏi thăm khen ngợi, âu yếm con mỗi ngày. - Giáo viên và phụ huynh phải cùng một trí hướng, phối hợp nhịp nhàng trong quá trình rèn luyện. 5. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp
  4. 5.1. Hiệu quả kinh tế : - Các đối tượng học sinh cá biệt được hoà nhập, được quan tâm đã điều chỉnh và theo kịp các bạn, biết chia sẻ, biết tham gia các hoạt động nên không cần phải theo học các trường đặc biệt nên giảm bớt áp lực kinh tế của gia đình. - Phụ huynh cũng như học sinh hiểu được về giá trị tinh thần nằm trong những lời động viên, sự quan tâm giúp đỡ nhau trong cuộc sống chứ không phải là vật chất. Nên các con hiểu và không đòi hỏi nhiều từ món quà vật chất từ cha mẹ. - Học sinh biết thương cha mẹ hơn, biết tiết kiệm, biết bảo quản tốt đồ dùng học tập của mình cũng như các đồ dùng cá nhân khác. - Phụ huynh bớt đi sự vất vả và luôn đồng hành với giáo viên trong việc rèn luyện nhằm nâng cao kĩ năng nói cho con. 5.2. Hiệu quả về mặt xã hội : - Gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình hạnh phúc ta sẽ có xã hội hạnh phúc. Con người hạnh phúc sẽ phát huy tối đa óc sáng của mình từ đó tạo ra các sản phẩm có giá trị tốt, có ích cho sức khoẻ, - Học sinh yêu thích Tiếng Việt, sau này có ý thức tìm hiểu thêm về lĩnh vực ngôn ngữ. Học sinh luôn sẵn sàng với một tâm thể tốt để tham gia vào các tiết học, luôn có ý thức tự học, tự khám phá. Hạn chế tối đa học sinhh phát âm bị ngọng. - Học sinh luôn biết hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong học tập cũng như các hoạt động khác. Điều chỉnh mọi đối tượng học sinh cho phù hợp với điều kiện tổ chức các hoạt động giáo dục.Học sinh tự tin khi trình bày ý kiến, quan điểm, nội dung trao đổi trước tập thể lớp. Hỗ trợ trong việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. - Tạo sự gần gũi, thân thiện giữa giáo viên và học sinh, học sinh với học sinh. Tăng thêm sợi dây gắn kết giữa các môi trường giáo dục Gia đình – Nhà trường và Xã hội. - Xã hội rất cần những chủ nhân tương lai có óc sáng tạo, nhạy bén, yêu nước. Cuộc sống cần những con người chân thật , biết sống vì tập thể, biết chia sẻ, hỗ trợ cùng phát triển, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh. Ngoài kiến thức, các phẩm chất, năng lực chung hay năng lực đặc thù cũng được hình thành và phát triển. Điều đó đáp ứng rất tốt yêu cầu trong chương trình giáo dục phổ thông 2018. - Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước như: làm MC dẫn chương trình, nhà văn, nhà thơ, nhà biên kịch, diễn viên, Đặc biệt là qua các chương trình để quảng bá về đất nước, về quê hương với những nét đẹp văn hoá đặc sắc với bạn bè năm châu. 5.3. Giá trị làm lợi khác :
  5. Giáo viên thêm yêu nghề mến trẻ, học sinh thích đến trường, phụ huynh tin tưởng hơn vào giáo dục, sẵn sàng đóng góp xây dựng nhà trường ngày càng khang trang hơn. Các ban ngành đoàn thể thêm tin tưởng vào nhà trường, giúp đỡ nhà trường trong việc trang bị thêm cơ sở vật chất hiện đại giúp các con có môi trường học tập tốt nhất. Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu ( nếu có): STT Họ và tên N.T. Nơi Chức Trình Nội dung công N.S công danh độ CM việc hỗ trợ tác 1 Nguyễn 26/05/ Trường Giáo Đại học Đánh giá học Thị Hương 1981 tiểu học viên sư phạm sinh qua môn Hợp tiểu học Tiếng Việt , Môn Đức Toán 2 Mai Thị 09/04/ Trường Giáo Đại học Đánh giá học Huyền 1986 tiểu học viên sư phạm sinh qua Âm Hợp tiểu học nhạc; Theo dõi Đức và phát hiện các học sinh có năng khiếu 3 Nguyễn 7/10/ Trường Giáo Đại học Theo dõi, đánh Thị Trung 1978 tiểu học viên sư phạm giá những học Trung Tính Hợp tiểu học Đức sinh hòa nhập. 4 Hoàng Thị 20/12/ Trường Giáo Đại học Đánh giá học Chiên 1978 tiểu học viên sư phạm sinh qua môn Hợp tiểu học Môn Hoạt động Đức trải nghiệm, 5 Đặng Thị 21/01/ Trường Giáo Đại học Đánh giá học Diễm 1992 tiểu học viên sư phạm sinh qua môn Hợp tiểu học Môn Đạo đức; Đức GDTC 6 Phạm Thị 10/10/ Trường Giáo Đại học Đánh giá học Bạch Tuyết 1981 tiểu học viên sư phạm sinh qua môn Hợp tiểu học Môn TNXH Đức 7 Nguyễn 02/10/ Trường Giáo Đại học Đánh giá học Thu Hà 1985 tiểu học viên sư phạm sinh qua môn Mĩ
  6. Hợp tiểu học thuật Đức 8 Phạm Thị 20/10/ Trường Giáo Đại học Đánh giá học Lưu 1987 tiểu học viên sư phạm sinh qua môn Hợp tiểu học Tiếng Anh Đức Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hợp Đức, ngày 25 tháng 12 năm 2023 CƠ QUAN ĐƠN VỊ NGƯỜI NỘP ĐƠN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (xác nhận) ........................................................ ........................................................ ........................................................ ........................................................ ........................................................ Lê Thị Thu Hà
  7. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1.Tên sáng kiến: “Một số giải pháp rèn kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 1 và các môn học khác. Không những chỉ vận dụng dạy lớp 1 mà có thể sử dụng dạy các môn ở các khối lớp khác. 3.Tác giả Họ và tên : Lê Thị Thu Hà Ngày/tháng/năm sinh: 05/08/1977 Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Hợp Đức. Điện thoại: DĐ: 0827 862 566 Gmail : [email protected] 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị : Trường Tiểu học Hợp Đức. Địa chỉ : Tổ dân phố Bình Minh – Hợp Đức – Đồ Sơn – Hải Phòng
  8. I. Mô tả giải pháp đã biết : Nói về việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 trong môn Tiếng Việt, đây là một trong những việc làm thường xuyên của giáo viên lớp 1. Tuy nhiên, vấn đề này không chỉ bó hẹp trong phân môn Tiếng Việt mà còn thể hiện trong tất cả các phân môn và trong các hoạt động giáo dục khác. Khi nghiên cứu các sáng kiến trên mạng Internet và của đồng nghiệp tôi nhận thấy các thầy cô đã đưa ra nhiều giải pháp để rèn kĩ năng nói cho học sinh như: - Rèn kĩ năng nói thông qua trả lời câu hỏi tìm hiểu nội dung của bài đọc trong phân môn Tập đọc. - Rèn kĩ năng nói thông qua chủ đề luyện nói trong môn Tiếng Việt. - Rèn kĩ năng nói thông qua môn kể chuyện. - Rèn kĩ năng nói thông qua các môn học khác. - Rèn kĩ năng nói thông qua giao tiếp hàng ngày giữa thầy cô và học sinh, giữa học sinh và học sinh, giữa học sinh với gia đình và những người xung quanh. - Rèn kĩ năng nói thông qua các hoạt động ngoại khoá tại trường và các buổi trải nghiệm. - Rèn kĩ năng nói thông qua các môi trường giáo dục: Nhà trường – Gia đình – Xã hội. - Rèn kĩ năng nói thông qua việc học tập các hành vi hàng ngày của giáo viên. Các giải pháp này bàn thân tôi đã áp dụng và cũng như các thầy cô khác đã chia sẻ, tôi nhận thấy các giải pháp trên có những ưu điểm và khuyểt điểm như sau: * Ưu điểm: - Các giải pháp đã đạt được mục tiêu là kĩ năng nói của học sinh được nâng lên, học sinh mạnh dạn hơn, tự tin hơn trong quá trình giao tiếp. - Các trường bạn cũng như trường của tôi mấy năm nay đều có học sinh đạt các giải cấp quốc gia, cấp thành phố, cấp quận khi tham gia các cuộc thi MC: Dẫn chương trình bằng tiếng anh, kể chuyện về Bác Hồ, kể chuyện lịch sử, giới thiệu về cảnh đẹp quê hương đất nước, giới thiệu về di tích lịch sử, - Nhiều phụ huynh cũng đã thay đổi cách nhìn nhận về giáo dục, sẵn sàng đầu tư cho giáo dục, phối hợp với thày cô đề nhắc nhở các con hàng ngày. * Hạn chế : - Học sinh nói câu còn ngắn và chưa có nhiều hình ảnh hoặc chưa biết sử dụng “các biện pháp tu từ ”để thể hiện nội dung nói cho sinh động, giàu hình ảnh. - Việc xử lí tình huống thực tiễn đôi khi còn máy móc, chưa hiệu quả. Học
  9. sinh chưa linh hoạt với các tình huống giáo viên đưa ra hoặc tình huống diễn ra hàng ngày tại trường, lớp hay ở nhà. - Số lượng học sinh tự tin đứng trước tập thể, trước thầy cô để bày tỏ quan điểm của mình chưa được nhiều vì kiến thức thực tế rất hạn chế. - Số lượng tham gia các cuộc thi chưa nhiều, đa số PH chưa thực sự đồng hành với GV khi tổ chức các cuộc thi đó. - Các giải pháp chưa quan tâm đến hoàn cảnh sống của học sinh. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc giao tiếp của học sinh. - Các giải pháp cũng chưa đề cập nhiều đến việc tìm hiểu tính cách của từng học sinh, phân nhóm đối tượng học sinh để từ đó có cách giáo dục phù hợp. - Có nhiều phụ huynh chưa biết kìm chế bản thân, thay đổi bản thân để thay đổi chính con của mình. Việc đồng hành cũng con như một người bạn, giữa hai bên chưa đã có tiếng nói chung nên hiệu quả rèn kĩ năng nói chưa cao. II. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến : 1. Nội dung giải pháp: Qua quá trình công tác đặc biệt là 15 năm trực tiếp làm công tác giảng dạy và chủ nhiệm lớp 1 tôi thấy: Nhiều học sinh khi mới vào học rất lo lắng, nhút nhát, hỏi không dám nói, làm gì cũng sợ sai, ngại các bạn cười nếu mình trình bày chưa đúng. Hoặc một số học sinh được bố mẹ quan tâm dạy trước nên biết một chút lại chủ quan coi mình đã biết không quan tâm nhiều đến bài học. Một số cháu quen môi trường học mầm non nên sợ khi đến trường tiểu học nên hay khóc nhè khi đến trường. Điều này ảnh hưởng tới tâm lí của trẻ. Ngoài ra, các cháu còn nhỏ, vốn từ còn hạn chế, đặc biệt một số cháu chậm nói nên khi diễn đạt không thành câu, câu lủng củng, khó hiểu đối với người nghe. Một số cháu bị bệnh bẩm sinh: Trí tuệ chậm phát triển, bị tự kỉ, bị tăng động, nên không những ảnh hưởng tới học sinh trong lớp, nên phụ huynh cũng như giáo viên cũng cảm thấy căng thẳng trong quá trình giảng dạy. Vậy làm thế nào để vượt qua những khó khăn, thử thách và khắc phục các mặt hạn chế để đưa chất lượng giáo dục nâng lên. Sau mỗi một năm học thực nghiệm bản thân tôi lại ghi lại những ưu điểm và hạn chế và tìm hướng khắc phục hạn chế đó trong năm học tiếp theo. Cứ như vậy, tôi đã có được những giải pháp tối ưu để giúp học sinh qua mỗi một năm học chủ động hơn, tích cực hơn, kĩ năng nói tốt hơn. Sau đây tôi xin chia sẻ để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo: Giải pháp 1: Tạo sự gần gũi, thân thiện giữa giáo viên với học sinh; giữa giáo viên với phụ huynh để tìm hiểu tính cách của từng học sinh từ đó phối hợp đưa ra các kĩ năng giúp học sinh phát triển kĩ năng nói. Như chúng ta đã biết, khi bước vào lớp 1 hầu hết giáo viên và học sinh là hai đối tượng không quen biết nhau. Học sinh chưa biết gì về cô, cô cũng chưa hiểu được tính cách của từng học sinh. Vậy nên, tạo được sự gần gũi giữa cô và
  10. trò là một vấn đề rất quan trọng. Còn về phía phụ huynh, đại đa số là phụ huynh trẻ, nhiều có phụ huynh có con đầu vào lớp 1 chưa có kinh nghiệm nên rất lo lắng. Nhiều phụ huynh sống khép kín, ngại chia sẻ nên cũng khó khăn trong quá trình giao tiếp, tìm hiểu. Một số phụ huynh cưng chiều con nên đôi khi việc phối hợp chưa hiệu quả. Các gia đình có hoàn cảnh sống khác nhau như: Gia đình có bố mẹ làm công nhân, đi làm về muộn nên khó quan tâm đến tình hình học tập của con. Gia đình bố mẹ bỏ nhau, con ở với ông bà, nên các con không được quan tâm đầy đủ; một số gia đình các thanh viên không hoà thuận, người thân hay gây gổ, cãi nhau điều nay cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc giao tiếp, việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của các em. Ngoài ra , với thời đại công nghệ 4.0 phụ huynh nào cũng có điện thoại thông minh, nên nhiều nhà trong bữa ăn, giấc ngủ, trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày quan tâm đến điện thoại nhiều hơn, nên việc giao tiếp của mọi người ít hơn, điều này cũng hạn chế rất nhiều đến vốn từ ngữ của các em. Một số em được ông bà , bố mẹ chiều nên khi đi học về, bố mẹ nấu cơm không biết phụ giúp, lúc ăn cơm cũng đòi điện thoại ngồi vừa xem vừa ăn nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kĩ năng nói của các em, nhiều khi trong lớp cứ mơ màng không tập trung. Trước tất cả các lí do trên, ngay từ đầu năm khi được nhận danh sách học sinh từ Ban giám hiệu nhà trường, tôi phải đọc kĩ hồ sơ tuyển sinh của từng em: Họ tên học sinh, bố mẹ các em ở độ tuổi nào, nghề nghiệp là gì, hoàn cảnh gia đình, Buổi đầu tiên tiếp xúc là buổi họp vô cùng quan trọng, trong buổi này có đầy đủ phụ huynh và học sinh, giáo viên cần tạo nên một không khí thân thiện để học sinh không có cảm giác sợ cô và phụ huynh cũng yên tâm, tin tưởng vào cô giáo từ đó bước đầu có sự thay đổi về suy nghĩ, tư tưởng. Tôi đã gửi cho phụ huynh một phiếu điều tra để hiểu rõ hơn về các con đặc biệt là phát hiện các học sinh năng khiếu hay các đối tượng mắc bệnh tự kỉ, các trẻ chậm phát triển, để từ đó phân loại đối tượng học sinh và xây dựng Kế hoạch giáo dục cho phù hợp và đưa ra cách rèn luyện phù hợp. Cụ thể: Mẫu phiếu: PHIẾU ĐIỀU TRA Họ và tên học sinh: . Ngày tháng năm sinh: . Nơi ở hiện nay: Hoàn cảnh gia đình: .. Sở thích của con: . Năng khiếu của con: . Hạn chế của con cần khắc phục: Theo PH nguyên nhân dẫn đến những mặt hạn chế của con là gì? Mong muốn của phụ huynh: . .. Hải Phòng, ngày tháng năm Họ tên phụ huynh
  11. Từ phiếu điều tra tôi đã bước đầu hiểu về học sinh của mình, tôi đã phân loại đối tượng học sinh sau đó trao đổi với phụ huynh từng nhóm để phối hợp giáo dục cho phù hợp. Cụ thể: * Nhóm 1: Đối tượng học sinh nói nhỏ, nhút nhát, ngại giơ tay phát biểu: Với đối tượng này giáo viên nên gọi thường xuyên hơn trong các giờ học. Ngoài ra khi xếp chỗ ngồi nên xếp ngồi cạnh các bạn nhóm 3, để trong khi tổ chức các hoạt động nhóm thì sự hỗ trợ từ các bạn nhóm 3 sẽ giúp các bạn nhóm 1 mạnh dạn hơn. Không những vậy mỗi khi học sinh nói to, trả lời đúng dù chỉ là ý nhỏ giáo viên cho các bạn vỗ tay khen động viên hoặc cô giáo khen bằng các sticker,... Bên cạnh đó sau mỗi buổi học giáo viên đặt một câu hỏi gợi ý dòng suy nghĩ của học sinh: Bài học hôm nay con còn điều gì băn khoăn, chưa hiểu cần cô giúp đỡ không? Con đã biết được điều gì qua bài học hôm nay? Sau khi nghe học sinh trình bày kết hợp với quá trình giảng dạy giáo viên sẽ đánh giá được năng lực của học sinh, nhất là năng lực ngôn ngữ. * Nhóm 2: Đối tượng trẻ hay nói tự do, nói nhanh hay làm việc riêng trong giờ học, trẻ tăng động giảm chú ý Đối tượng này giáo viên mỗi tiết học giáo viên đưa ra mục tiêu: Nếu hôm nay các bạn A, B, ( giáo viên nêu tên), chú ý nghe cô giảng, ngoan, hăng hái phát biểu, hết tiết sẽ được cô khen. Tuy nhiên, trong suốt giờ học nếu học sinh đó có biểu hiện chưa ngoan giáo viên đưa ra kí hiệu để học sinh đó điều chỉnh. Cuối tiết, dù tiến bộ nhiều hay ít đều được thưởng. * Nhóm 3 : Trẻ hay phản biện, “cãi lí” hay tỏ thái độ ngay nếu không hài lòng. Đối với học sinh này giáo viên nên hỏi lí do để học sinh trả lời, nếu nội dung trả lời lệch lạc thì giáo viên phải phân tích cho học sinh hiểu từ đó có cách suy nghĩ đúng đắn. Đôi khi giáo viên phản biện ngược lại để học sinh đó đưa ra được các lí do thuyết phục. * Nhóm 4: Học sinh ngoan, vâng lời, học tốt Cuối buổi học, cuối tuần những học sinh này luôn được khen ngợi để các cháu vui hơn, nâng cao ý thức của mình hơn. Và những cháu này sẽ là cánh tay đắc lực của giáo viên trong việc hỗ trợ cô giúp đỡ các bạn trong lớp. Để đạt được các mục tiêu mình mong muốn thời gian vất vả nhất là học kì 1. Nhưng kì diệu hơn cả, là các nhóm dần dần điều hoà trong một lớp học, tỉ lệ tăng động cũng giảm xuống, học sinh nói to hơn và đặc biệt học sinh vui vẻ khi trao đổi với thầy cô và bạn bè một cách thoải mái. Còn về phụ huynh hỗ trợ với giáo viên nhắc nhở con khi con ở nhà. Bản thân tôi luônlắng nghe học sinh tâm sự trong các giờ ra chơi. Vậy nên, tôi hiểu khá rõ về gia đình từng học sinh, hiểu mong muốn của các con. Đặc biệt, có những phụ huynh sau khi nghe giáo viên trao đổi lại những mong muốn của các con với cha mẹ đã thay đổi từ suy nghĩ đến cách sống. Cha mẹ cũng bớt áp lực, con cái cũng cảm thấy hạnh phúc, thầy cô giáo cũng cảm thấy nhẹ nhàng. Phụ huynh đã tăng thời gian quan tâm đến
  12. con hơn, giảm bớt xem điện thoại , trong bữa cơm mọi người cũng nói chuyện vui vẻ, trong cuộc sống đã biết chia sẻ, giảm bớt cái tôi, ai sai biết xin lỗi và điều chỉnh. Giải pháp 2: Tạo không khí lớp học tràn ngập năng lượng; Giáo viên tăng cường đặt câu hỏi có hướng mở Sức khỏe là một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên một lớp học tràn ngập năng lượng. Vậy mỗi giáo viên cần có sức khỏe tốt từ đó có nguồn năng lượng tích cực lan tỏa đến học sinh. Trong tiết học nếu giáo viên mệt mỏi, nói nhỏ, học sinh sẽ uể oải theo. Vậy tiếp thu kiến thức của học sinh không tốt và bản thân giáo viên càng cảm thấy ức chế lại càng mệt mỏi hơn. Vậy nên, dù có mệt hãy cố gắng tươi cười khi vào tiết học. Vận động cùng học sinh đầu các tiết học để tạo không khí, tạo nguồn năng lượng tích cực trong mỗi học sinh. Nếu tiết học tự dưng trầm xuống giáo viên khen khích lệ học sinh . Ví dụ: Khi học sinh là xong bài tập e dè chưa dám giơ tay phát biểu giáo viên khen bất kì một tổ nào đó hay vài cá nhân nào đó, tự nhiên các tổ khác, các cá nhân khác như một phản xạ cũng giơ tay báo hiệu với giáo viên. Tránh việc nhàm chán trong bài dạy giáo viên nên chọn các hình thức tổ chức khác nhau, tuy nhiên đảm bảo 100% học sinh được tham gia.Vỗ tay khen ngợi là một trong những hiệu ứng rất tuyệt vời, đù học sinh trả lời đúng dù ít hay nhiều nên vỗ tay động viên. Khi vỗ tay âm thanh đập vào vở não, kích thích dây thần kinh từ hai bàn tay nên giúp học sinh tập trung hơn. Như vậy nhìn gương mặt học sinh tươi hơn, vui hơn nó tác động ngược trở lại tới giáo viên, giáo viên bớt căng thẳng hay mệt mỏi. Ngôn ngữ hình thể của giáo viên cũng là một trong những hiệu ứng tích cực, giáo viên như một nhạc trưởng tạo bầu không khí trong tiết học. Đôi khi các động tác của giáo viên lại giúp học sinh phát hiện vấn đề một cách sáng tạo. Tạo sự tập trung đôi khi giáo viên cho đọc đồng thanh, nhưng nếu vẫn còn có học sinh không đọc, không chú ý giáo viên hô 2-3 thế là học sinh tập trung 100% vào nội dung đọc. Đặc biệt, trên thực tế cứ giáo viên nói nhỏ, học sinh nói nhỏ. Nếu giáo viên nói to một chút, tạo năng lượng như một MC trên sân khấu thì khả năng thu hút học sinh vào bảng giảng tốt hơn. Tăng cường đặt câu hỏi có hướng mở: Đây là một trong những phương pháp tìm ra học sinh có năng khiếu, học sinh có tư duy logic, hầu như các câu hỏi tôi đưa ra theo hướng mở nên nhiều học sinh được trả lời theo các hướng suy nghĩ khác nhau. Hoặc học sinh lên trình bày quan điểm của bản thân. Dựa trên các ý kiến đó giáo viên đưa ra lời chốt dễ hình dung nhất, dễ hiểu nhất, Qua đó, những học sinh trả lời chưa đúng cũng không ngại, học sinh trả lời đúng hay gần đúng cũng rất vui.Khen ngợi học sinh trả lời tốt, tích cực tham gia xây dựng bài là một trong những hình thức động viên rất tuyệt vời. Chỉ bằng các sticker thôi nhưng các học sinh thay đổi rất tích cực.
  13. Biện pháp 3: Xây dựng hình ảnh người giáo viên uy tín, mẫu mực, kiên nhẫn và tận tâm Có thể nói uy tín, mẫu mực, kiên nhẫn và tận tâm là các yếu tố đóng vai trò quyết định trong việc hình thành cho học sinh kỹ năng nói đúng và nói chuẩn. Tại sao nói như vậy. Bởi học sinh tiểu học nhất là học sinh lớp một, mọi thao tác hoạt động của các em hầu như là bắt chước giáo viên. Do vậy, muốn học sinh nói đủ to, rõ ràng thành câu, giáo viên phải là người nói đúng, nói chuẩn ở mọi lúc mọi nơi. Nếu giáo viên nói sai thì học sinh sẽ làm sai. Hoặc giáo viên nói không có ngữ điệu thì học sinh cũng sẽ không biết cách thể hiện ngữ điệu trong lời nói.Phần lớn các em học sinh lớp một còn nhút nhát, rụt rè. Do vậy, giáo viên cần phải tạo cơ hội cho các em được thường xuyên nói trước đám đông, khen ngợi, khuyến khích, động viên để các em tự tin, cởi mở hơn khi nói trước thầy cô, trước bạn bè. Khi dạy đọc giáo viên phải hướng dẫn các em cách phát âm thật chuẩn bởi có đọc đúng thì mới nói đúng. Nếu các em chưa phát âm đúng thì sẽ ngại khi nói vì sợ các bạn chê cười nên không dám nói to, vừa đủ nghe, ngượng nghịu, mất trật tự mất tự nhiên. Sau khi hướng dẫn, nêu yêu cầu của việc luyện nói, ban đầu giáo viên có thể làm mẫu để học sinh biết được các em cần phải nói nói to, rõ ràng như thế nào, cử chỉ điệu bộ ra sao. Nếu từ ngữ thể hiện chủ đề luyện nói khó hiểu thì giáo viên có thể giải thích cho học sinh hiểu ý nghĩa của từ trước khi nói. Khi đã tập được cho học sinh được tác phong tự nhiên, nói to, rõ ràng, các em phải biết cách gợi ý để giúp cho học sinh nói đúng chủ đề, nói thành câu. Ban đầu khi gọi em còn bỡ ngỡ bằng phương pháp trực quan về hệ thống hỏi giáo viên gợi ý cho em nói đúng nói phù hợp với chủ đề. Ví dụ Bài 23- Chủ đề Cảm ơn + Sau khi giới thiệu chủ đề, giáo viên yêu cầu học sinh trao đổi nhóm đôi nói về tình huống trong tranh? Lúc này giáo viên đến từng nhóm lắng nghe và điều chỉnh, giúp đỡ, Đây là bước khá quan trọng nó giúp học sinh định hướng, điều chỉnh và có cảm giác an toàn khi đứng lên trình bày. + GV đặt một vài câu hỏi đơn giản, dễ trình bày và gọi HS nhút nhát lên trình bày. Động viên dù vẫn còn nói nhỏ, chưa tự tin để lần sau HS tiến bộ hơn. Như: - Điều gì xảy ra với bạn Nam? Theo con bạn Nam đã nói gì với cô giáo? Cô giáo đã làm gì sau khi nghe Nam trình bày? Những câu hỏi tưởng chừng đơn giản, dễ trả lời kèm những lời động viên của giáo viên nhưng đem lại hiệu quả khá lớn nhất là sự gần gũi giữa giáo viên và học sinh. Nếu em nào chưa nói chưa đủ câu, giáo viên yêu cầu của em trả lời lại câu hỏi, động viên, khuyến khích các em trả lời để các em mạnh dạn hơn. Khi đã hiểu về nội dung các bức tranh giáo viên khuyến khích học sinh xâu chuỗi các sự việc và nói thành đoạn văn. Trong quá trình học sinh thể hiện giáo viên cần chú ý uốn nắn, điều chỉnh kịp thời từ lời nói dến cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ hình thể,
  14. Nhiều lúc giúp tiết học sinh động giáo viên hướng dẫn học sinh các động như hướng dẫn động tác minh hoạ của một bài hát, từ đó học sinh càm thấy thể hiện ngôn ngữ hình thể, điệu bộ cử chỉ, hành động hết sức tự nhiên, bình thường, không có gì đáng e ngại. Ngoài ra, giáo viên động viên học sinh kể và quay video gửi cho cô, học sinh rất thích phương pháp này. Giáo viên xem xong phải động viên ngay bằng video nhận xét, khích lệ, động viên. Sau mỗi chủ đề luyện nói, giáo viên cần khéo léo liên hệ giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và xử lý tình huống trong thực tế. Biện pháp 4: Đề cao biện pháp dạy học cá thể hóa; Vận dụng linh hoạt kỹ thuật dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, các phương pháp và cách sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả giúp học sinh phát huy khả năng luyện nói trong và ngoài giờ học. Tăng cường dạy học cá thể hoá, đây là một việc làm vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến bộ của học sinh do đó việc giáo viên cần phải quan tâm đến mọi đối tượng học sinh trong lớp với mỗi đối tượng cụ thể cần có phương pháp dạy học thích hợp: Đối với học sinh tiếp thu bài tốt (học sinh khá, giỏi) nói đúng, tự nhiên thì giáo viên cần bồi dưỡng bằng các câu hỏi mở rộng, phân công làm nhóm trưởng để có thể nhận xét và giúp các bạn trong nhóm sửa sai. Đối với học sinh tiếp thu bài hơi chậm (học sinh trung bình) chỉ biết nói theo mẫu, đúng chủ đề thì giáo viên cần tạo nhiều tình huống phù hợp với chủ đề cho các em nói. Khuyến khích các em nói trước đám đông, giúp các em mạnh dạn, tự tin. Đối với học sinh tiếp thu bài chậm (học sinh yếu cần) cung cấp cho học sinh với từ thật chuẩn (qua phần tập đọc, quan sát tranh ảnh, ) . Giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ và cụ thể không nóng vội khi các em nói sai, nói nhỏ. Ban đầu có thể giúp học sinh nói bằng cách trả lời câu hỏi theo mẫu. Do vậy, giáo viên phải thay đổi các hình thức luyện nói để học sinh không nhàm chán. Phát huy tiềm năng của các nhóm trưởng, giáo viên tổ chức luyện nói theo chủ đề trong nhóm đôi hoặc nhóm bốn sau đó mới nói trước lớp có như vậy các em sẽ vững vàng hơn, tự tin khi trình bày. Bên cạnh đó giáo viên sử dụng hiệu ứng của tiếng vỗ tay động viên, vỗ tay khen ngợi, tạo hứng thú và rèn sự tập trung cho học sinh trong giờ học. Đối với học sinh lớp một nhiều em còn nói năng tự phát hay nói trống không, nói vút đuôi, trả lời cộc lốc, nói năng ấp úng, diễn đạt lủng củng chưa sắp xếp được câu nào nói trước, câu nào nói sau. Nhiều em nói ngọng, ngọng âm , ngọng vần, ngọng thanh, Nhưng sửa thế nào hiệu quả giáo viên vận dụng các kĩ thuật rèn ngọng, tuy nhiện phải rèn hàng ngày và rèn thường xuyên. Đối với những em trả lời câu cộc lốc không trả lời thành câu, đủ ý giáo viên yêu cầu học sinh trả lời lại theo giáo viên, mỗi lần được nói lại hai lần, sau đó khen tiến bộ lần sau học sinh đó sẽ thay đổi. Đối với những em trả lời lủng củng giáo viên không chê mà nói theo cô con nên nói như thế này sẽ hay hơn. Sau đó học sinh nói lại, vài lần điều chỉnh như vậy học sinh sẽ tiến bộ. Đối với các em bị ngọng,
  15. giáo viên điều chỉnh thật cho học sinh trong các giờ học, trong cả giờ chơi, Việc điều chỉnh ngọng giáo viên áp dụng các kĩ thuật rèn ngọng. Giải pháp 5: Nghiên cứu nội dung chương trình môn Tiếng Việt lớp 1, phối hợp nhịp nhàng để rèn nói cho học sinh trong các giờ học và các hoạt động giáo dục. * Nghiên cứu nội dung chương trình môn Tiếng Việt lớp 1; Rèn kĩ năng nói ở phần luyện nói trong mỗi bài học Để giúp HS luyện nói một cách có hiệu quả trước hết người giáo viên cần nghiên cứu toàn bộ nội dung chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Hệ thống lại toàn bộ các chủ đề luyện nói, nghiên cứu kỹ nội dung của từng chủ đề, xác định rõ mục tiêu chính của các chủ đề luyện nói. Tránh trường hợp mở rộng nội dung sẽ trùng với nội dung chủ đề ở bài học tiếp theo. Nghiên cứu tranh, đồ dùng, phương tiện dạy học nhằm phục vụ tốt cho bài luỵên nói, cách sử dụng tranh cho bài luyện nói như thế nào hiệu quả cao nhất. Tôi thấy, các chủ đề diễn ra thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày với nhiều tình huống khác nhau. Nên được luyện nói nhiều giúp học sinh ứng xử tốt hơn, linh hoạt hơn. Nội dung luyện nói ở kì II được thể hiện dưới dạng các bài tập nhưng nó đều xoay quanh các chủ đề đã học trong học kì 1. Dù chủ đề nào đi chăng nữa, tôi đều hướng cho học sinh: quan sát kĩ tranh và tưởng tượng ra một câu chuyện ngắn, hay một sự việc ( có đầu, có đuôi). Tôi khuyến khích các con chuẩn bị nội dung nói trước ở nhà để học sinh tự tin hơn khi trình bày và đồng thời nội dung thể hiện sẽ phong phú hơn. Bên cạnh đó, sau khi bạn trình bày xong việc học sinh đánh giá bạn là một khâu rất quan trọng hỗ trợ rất lớn trong quá trình rèn kĩ năng nói cho học sinh. Học sinh nhận xét trên các phương diện: Nói đúng nội dung tranh chưa? Đúng chủ đề không? Các câu bạn nói thế nào? Hay chưa, cần điều chỉnh ở đâu? Điều chỉnh thế nào? Từ đó, giáo viên hỗ trợ học sinh giúp đỡ, điều chỉnh để học sinh rút kinh nghiệm trong những lần tiếp theo. Để làm tốt điều nay ngay bài học đầu tiên giáo viên làm mẫu, ghi âm lại nội dung gửi cho phụ huynh để phụ huynh biết từ đó đồng hành và hỗ trợ các con. Mỗi bài học, phần luyện nói nằm ở tiết thứ 2 của bài Tiếng Viêt, mỗi chủ đề giáo viên lựa chọn các cách hướng dẫn, giới thiệu khác nhau tạo gây hứng thú cho học sinh. Khi dạy luyện nói cho học sinh lớp một giáo viên cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức phương pháp, đồ dùng dạy học hỗ trợ giúp học sinh tiếp thu về nhanh chóng hiệu quả hơn. Các em sẽ thấy hứng thú hơn khi thực hành luyện nói. Bởi đây là giai đoạn tâm lý nữa tuổi của em rất thích mới lạ nhưng cũng rất nhanh chán. Nếu dập khuôn máy móc một hình thức hướng dẫn học sinh luyện nói sẽ làm cho học sinh nhàm chán không hứng thú trong hoạt động luyện nói. Đặc biệt trong lớp một sẽ có nhiều đối tượng học sinh chính vì vậy mà giáo viên cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho từng nhóm đối tượng tùy từng nội dung từng bài.
  16. Giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin, điều chỉnh hình ảnh tĩnh thành động có kèm theo lời thoại như câu chuyện chắc chắc các em sẽ nhớ lâu, và vận dụng rất nhanh.Hình thức sắm vai cũng là một trong những phương pháp rất tuyệt vời. Với hình thích này giúp học sinh phát huy sự sáng tạo của bản thân, sự kết hợp hài hoà trong nhóm, sự tự nhiên trong diễn xuất, Trong một số trường hợp đặc biệt giáo viên đóng vai là một nhân vật vừa đóng vai cũng đồng thời là một cách hỗ trợ học sinh khi thể hiện. Đồ dùng dạy học là một trong những phương tiện hỗ trợ rất tuyệt vời. Các đồng dùng này giáo viên cùng học sinh có thể tự thiết kế nên nó rất gần gũi với các em , các em rất thích và sử dụng dễ dàng, nhất là trong khi thực hiện hình thức sắm vai. Ngoài ra, Giáo viên phải lựa chọn hình thức, phương pháp và cách sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả giúp học sinh phát huy khả năng luyện nói trong và ngoài giờ học. Như: * Phối hợp rèn kĩ năng nói trong tất cả các môn học. Môn học nào cũng vậy đều có hoạt động giao tiếp giữa giáo viên và học sinh. Vậy trong mỗi giờ học giáo viên phải chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy học, thiết kế bài dạy với hệ thống các câu hỏi phù hợp với tất cả đối tượng học sinh, Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo viên phải hết sức linh hoạt sao cho các hoạt động giao thoa giữa thầy cô giáo và học sinh diễn ra nhịp nhàng: Học sinh trả lời tốt khen động viên, học sinh trả lời ngắc ngứ giáo viên yêu cầu trả lời vài lần cho trôi chảy sau đó động viên sự tiến bộ, học sinh chưa trả lời đúng giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi ý và giúp học sinh cố gắng đưa ra câu trả lời của mình.Mỗi ngày rèn luyện mốt chút chắc chắn cuối năm học học sinh sẽ tiến bộ rất nhiều. * Rèn kĩ năng nói trong giờ kể chuyện Cuối mỗi tuần trong bài ôn tập tiết thứ hai đều có nội dung kể chuyện. Vậy rèn kĩ năng nói trong hoạt động này thể hiện ở chỗ nào? Đó chính là sau khi nghe giáo viên kể chuyện, học sinh quan sát các bức tranh và kể lại từng đoạn của câu chuyện, kể cả câu chuyện dựa trên nội dung câu chuyện cô giáo kể. Đặc biệt giáo viên khuyến khích học sinh thay thế những “từ ngữ” khác mà vẫn không làm thay đổi nội dung của câu chuyên. Đó là sự sáng tạo và phát triển năng lực ngôn ngữ của học sinh.Khi học sinh kể chuyện giáo viên nên cho học sinh đứng lên bục giảng kể điều này giúp học sinh tự tin hơn, mạnh dạn hơn. Trong quá trình kể giáo viên nên khuyến khích học sinh kết hợp cả ngôn ngữ hình thể để thể hiện nội dung của câu chuyện để tiết học sinh động hơn. * Rèn kĩ năng nói ngoài giờ học Ngoài giờ học kể đến là giờ ra chơi, giáo viên dành thời gian hỏi han tình hình gia đình của em đó, sở thích của em, Trong quá trình trao đổi giáo viên điều chỉnh các câu trả lời của học sinh. Việc điều chỉnh câu trả lời của học sinh giúp học sinh phát triển được năng lực ngôn ngữ rất tốt.
  17. Hoặc giáo viên chuẩn bị một số đồ chơi mang tính chất chơi tập thể, học sinh chơi cùng nhau, giúp đỡ nhau, hoặc có sự sáng tạo trao đổi với nhau, như vậy các em sẽ điều chỉnh cho nhau, điều này cũng rất hiệu quả trong việc rèn nói cho học sinh. Cuối năm học nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động trải nghiệm. Đây cũng là một cơ hội tốt để gắn kết tình cảm thầy trò, tình cảm bạn bè, Học sinh sẽ mạnh dạn nói chuyện với thầy cô về suy nghĩ của mình, các bạn biết chia sẻ với nhau từ các câu chuyện ấp ủ, từng đồ ăn vặt bố mẹ chuẩn bị, từ câu hỏi thăm khi bạn mệt, 2. Tính mới, tính sáng tạo : Các giải pháp trên cho thấy : - Sự yêu nghề, yêu trẻ, tâm huyết của giáo viên được thể hiện rất rõ trong từng việc làm, từng hành động, từng dòng suy nghĩ. Giáo viên nắm bắt được tính tình của từng học sinh, năng lực, điểm mạnh, điểm yếu đồng thời tìm hiểu được các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh chậm nói, chậm tư duy, tăng động, giảm chú ý, nói năng cộc lốc, nói câu lủng củng tối nghĩa, Từ đó, phối hợp với cha mẹ học sinh điều chỉnh các em. - Các giải pháp này ngoài việc giúp học sinh lớp 1 phát triển kĩ năng nói mà còn học tốt các môn học khác và các hoạt động giáo dục. Đặc biệt là giải pháp tạo năng lượng tích cực trong các tiết học, giảm bớt stress của giáo viên, học sinh và cả phụ huynh. - Bên cạnh đó, sáng kiến còn giúp giáo viên cũng như phụ huynh luôn biết kìm chế, luôn luôn nhẫn nại, từ đó tự điều chỉnh bản thân, đồng thời điều chỉnh chính người thân, đặc biệt là con cái mình. Sáng kiến giúp cho cha mẹ cũng như các con gần nhau hơn, sẵn sàng chia sẻ, đặc biệt là trẻ không nói dối, như vậy dễ dàng hơn trong quá trình quản lí cũng như giáo dục con. Ngoài ra, các giải pháp đã thay đổi suy nghĩ của phụ huynh, hiểu và sẵn sàng tạo điều kiện đầu tư cho giáo dục. Nhiều gia đình các thành viên biết quan tâm đến nhau, gia đình hạnh phúc. Từ đó, hỗ trợ các em rất nhiều trong giao tiếp hàng ngày. - Các giải pháp đã giúp giáo viên và cha mẹ các em phát hiện học sinh tài năng khiếu của con em mình để từ đó bồi dưỡng nhân tài như : Năng khiếu làm
  18. MC, Năng khiếu quản li, Năng khiếu vẽ, hát, múa, đàn, Điều đó tạo sợi dây gắn kết chặt chẽ ba môi trường giáo dục Nhà trường- Gia đình và xã hội. - Bên cạnh đó còn giúp trẻ đoàn kết nhất là trong hoạt động nhóm, điều này rất cần thiết cho các con sau này khi các con làm việc, phát minh khoa học, - Các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ và phát triển phẩm chất cho học sinh đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. 3. Khả năng áp dụng, nhân rộng Các giải pháp này có thể áp dụng thực hiện ở môn Tiếng Việt lớp 1 cũng như các lớp khác. Giải pháp không chỉ bó gọn trong môn Tiếng Việt mà còn còn hỗ trợ rất tốt khi học các môn học khác. Các giải pháp trên không chỉ áp dụng tại trường Tiểu học Hợp Đức mà còn thực hiện ở tất cả các trường tiểu học khác. 4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp 4.1. Hiệu quả kinh tế : - Các đối tượng học sinh cá biệt được hoà nhập, được quan tâm đã điều chỉnh và theo kịp các bạn, biết chia sẻ, biết tham gia các hoạt động nên không cần phải theo học các trường đặc biệt nên giảm bớt áp lực kinh tế của gia đình. - Phụ huynh cũng như học sinh hiểu được về giá trị tinh thần nằm trong những lời động viên, sự quan tâm giúp đỡ nhau trong cuộc sống chứ không phải là vật chất. Nên các con hiểu và không đòi hỏi nhiều từ món quà vật chất từ cha mẹ. - Học sinh biết thương cha mẹ hơn, biết tiết kiệm, biết bảo quản tốt đồ dùng học tập của mình cũng như các đồ dùng cá nhân khác. - Phụ huynh bớt đi sự vất vả và luôn đồng hành với giáo viên trong việc rèn luyện nhằm nâng cao kĩ năng nói cho con. 4.2. Hiệu quả về mặt xã hội : - Gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình hạnh phúc ta sẽ có xã hội hạnh phúc. Con người hạnh phúc sẽ phát huy tối đa óc sáng của mình từ đó tạo ra các sản phẩm có giá trị tốt, có ích cho sức khoẻ, - Học sinh yêu thích Tiếng Việt, sau này có ý thức tìm hiểu thêm về lĩnh vực ngôn ngữ. Học sinh luôn sẵn sàng với một tâm thể tốt để tham gia vào các tiết học, luôn có ý thức tự học, tự khám phá. Hạn chế tối đa học sinhh phát âm bị ngọng. - Học sinh luôn biết hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong học tập cũng như các hoạt động khác. Điều chỉnh mọi đối tượng học sinh cho phù hợp với điều kiện tổ chức các hoạt động giáo dục.Học sinh tự tin khi trình bày ý kiến, quan điểm, nội dung trao đổi trước tập thể lớp. Hỗ trợ trong việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh.
  19. - Tạo sự gần gũi, thân thiện giữa giáo viên và học sinh, học sinh với học sinh. Tăng thêm sợi dây gắn kết giữa các môi trường giáo dục Gia đình – Nhà trường và Xã hội. - Xã hội rất cần những chủ nhân tương lai có óc sáng tạo, nhạy bén, yêu nước. Cuộc sống cần những con người chân thật , biết sống vì tập thể, biết chia sẻ, hỗ trợ cùng phát triển, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh. Ngoài kiến thức, các phẩm chất, năng lực chung hay năng lực đặc thù cũng được hình thành và phát triển. Điều đó đáp ứng rất tốt yêu cầu trong chương trình giáo dục phổ thông 2018. - Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước như: làm MC dẫn chương trình, nhà văn, nhà thơ, nhà biên kịch, diễn viên, Đặc biệt là qua các chương trình để quảng bá về đất nước, về quê hương với những nét đẹp văn hoá đặc sắc với bạn bè năm châu. 4.3. Giá trị làm lợi khác : Giáo viên thêm yêu nghề mến trẻ, học sinh thích đến trường, phụ huynh tin tưởng hơn vào giáo dục, sẵn sàng đóng góp xây dựng nhà trường ngày càng khang trang hơn. Các ban ngành đoàn thể thêm tin tưởng vào nhà trường, giúp đỡ nhà trường trong việc trang bị thêm cơ sở vật chất hiện đại giúp các con có môi trường học tập tốt nhất. CƠ QUAN ĐƠN VỊ TÁC GIẢ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (Ký tên) (xác nhận) ................................................................. ................................................................. ................................................................. ................................................................. Lê Thị Thu Hà .................................................................
  20. XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH SÁNG KIẾN QUẬN ĐỒ SƠN