Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

doc 25 trang Hoàng Oanh 28/11/2025 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docdon_cong_nhan_sang_kien_mot_so_bien_phap_giao_duc_va_phu_dao.doc

Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP ĐỨC Tên sáng kiến “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VÀ PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM, HỌC SINH CÁ BIỆT NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC.” Tác giả: MAI THỊ HUYỀN Trình độ chuyên môn: ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TIỂU HỌC Chức vụ: GIÁO VIÊN Nơi công tác: TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP ĐỨC N¨m häc 2023 - 2024
  2. 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN ĐỀ NGHỊ XÉT, CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN NĂM 2024 Kính gửi: - Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn - Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Đồ Sơn - Trường Tiểu học Hợp Đức Họ và tên: Mai Thị Huyền Ngày tháng năm sinh: 09-04-1986 Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hợp Đức Chức danh: Giáo viên Trình độ chuyên môn: Đại học Giáo dục Tiểu học Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến: 100% Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.” 1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Những biện pháp này được áp dụng trong công tác giảng dạy, giáo dục và rèn luyện học sinh trong trường học. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng: 20/08/2023 3. Mô tả bản chất của sáng kiến 3.1. Tính mới, tính sáng tạo Việc giáo viên hàng ngày luôn gần gũi, mềm dẻo, linh hoạt khi áp dụng các biện pháp dạy dỗ và uốn nắn học sinh nói chung cũng như những học cá biệt, học sinh yếu kém nói riêng bằng phương pháp kết hợp giữa kỷ luật, trách nhiệm và tình thương thay vì việc gò ép cứng nhắc và trách phạt sẽ giúp học sinh thêm tin tưởng và sẵn sàng chia sẻ về học tập, về hoàn cảnh cũng như cảm xúc, tâm trạng của chính các em. Môi trường giáo dục thân thiện không những giúp học sinh nói chung cảm thấy gần gũi mà đặc biệt sẽ giúp các học sinh yếu, học sinh cá biệt thấy mình cũng có vai trò quan trọng trong tập thể lớp, giúp các em giảm bớt căng thẳng và luôn cảm nhận được tình yêu thương từ thầy cô, bạn bè và thấy mình cũng là một phần của tập thể chứ không phải bị cô lập, tách rời. Chính điều này sẽ giúp mọi hoạt động giáo dục, đặc biệt là các biện pháp uốn nắn và cảm hoá những
  3. 3 học sinh yếu, học sinh cá biệt luôn diễn ra nhẹ nhàng nhưng lại rất hiệu quả. Các em tiếp thu kiến thức cũng hiệu quả hơn. Việc tìm hiểu, nắm bắt các ưu, nhược điểm để hình thành và tác động vào động cơ học tập của học sinh sẽ giúp các em học sinh phát huy được những điểm mạnh và khắc phục được những hạn chế của mình. Đặc biệt đối với những học sinh yếu kém, học sinh cá biệt, việc giúp các em tìm ra thế mạnh của mình sẽ làm cho các em cảm thấy mình có giá trị và có khả năng làm tốt một số việc. Từ đó các em sẽ thêm tự tin và mạnh dạn hơn. Khi giáo viên mạnh dạn trao cho học sinh cơ hội để thể hiện bản thân sẽ giúp cho các em thấy bản thân mình được tin tưởng và sẽ quyết tâm thể hiện hết mình. Điều này không chỉ giúp những học sinh bình thường mà với những học sinh cá biệt sẽ là một sự động viên vô cùng lớn. Khi áp dụng các biện pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt, người giáo viên luôn tuân thủ nguyên tắc luôn tôn trọng, lắng nghe và không kì thị với những học sinh cá biệt sẽ giúp các em thêm tự tin, không thấy bản thân bị cô lập và bớt đi những mặc cảm để từ đó tự giác hơn trong học tập và rèn luyện. Việc giáo viên luôn làm mới các hoạt động giáo dục và dạy học đồng thời áp dụng các trò chơi và ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học kĩ thuật và vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục, dạy học tích cực, áp dụng các mô hình học tập, các hình thức tổ chức phù hợp với lứa tuổi và nội dung của các môn học, bài học cũng như các hoạt động sẽ tạo ấn tượng, gây hứng thú học tập cho học sinh. Bên cạnh đó, việc thường xuyên động viên, khen thưởng, khích lệ kịp thời của giáo viên và của các bạn sẽ giúp các em thêm hứng thú, tự tin hơn trong quá trình học tập và rèn luyện. Các hoạt động học tập và rèn luyện được lồng ghép vào các tiết học cũng như các hoạt động hàng ngày nên dễ đi sâu vào tâm trí của các em. Đặc biệt, việc phát huy tối đa vai trò tự quản, tự học, tự chịu trách nhiệm của bản thân các em học sinh sẽ giúp các em mạnh dạn, chủ động hơn trong mọi hoạt động. Giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn và điều chỉnh khi cần còn học sinh luôn giữ vai trò chủ đạo và là người trực tiếp thực hiện. Với các biện pháp giáo dục và phụ đạo các học sinh yếu kém, học sinh cá biệt đã thực hiện sẽ giúp các em học sinh dần hình thành cho mình nhân cách đạo đức và thói quen tự giác học tập. Giúp học sinh hiểu rõ vai trò và nghĩa vụ của mình trong học tập và rèn luyện. Từ đó các em có ý thức tự giác rèn luyện và hoàn thiện chính bản thân mình cả về nhân cách và trí tuệ. Đặc biệt việc giáo dục nhân cách đạo đức cho học sinh thông qua tìm hiểu truyền thống lịch sử của quê hương đất nước sẽ hun đúc và nuôi lớn tình yêu quê hương, tinh thần tự hào dân tộc. Từ đó giúp nhân cách đạo đức của các em dần phát triển tích cực. Các em cũng sẽ có ý thức và trách nhiệm hơn trong mọi việc làm của mình. Việc phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục, giữa nhà trường và gia đình giúp cho học sinh dần hình thành những nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt. Các em sẽ có trách nhiệm hơn trong việc học tập cũng như trong rèn luyện. 3.2. Khả năng áp dụng và nhân rộng
  4. 4 Đây là những biện pháp dễ áp dụng không những chỉ đối với một giáo viên hay một khối lớp cụ thể nào mà có thể áp dụng với tất cả các giáo viên, đặc biệt là đối với giáo viên chủ nhiệm. Không những thế, các biện pháp này còn có thể áp dụng đối với các lớp học khác ở các cấp học khác và các vùng miền khác. 4. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và lòng nhiệt huyết, yêu nghề, mến trẻ của giáo viên. - Cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết. - Các tài liệu tham khảo. - Sự hiểu biết về tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh. - Các điều kiện khác có liên quan. 5. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp 5.1. Hiệu quả kinh tế Tiết kiệm thời gian cho giáo viên và học sinh: Các hoạt động giáo dục và rèn luyện học sinh không tách biệt mà đều có thể lồng ghép với nhau một cách phù hợp. Điều đó không chỉ giúp tiết kiệm thời gian cho giáo viên và học sinh mà còn giúp các em học sinh được tiếp cận với các hoạt động giáo dục một cách nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Tiết kiệm công sức cho giáo viên: Giáo viên có thể tìm và tận dụng những vật liệu, đồ dùng, phương tiện dạy học có sẵn trong thực tế và có thể sử dụng lại nhiều lần mà không cần phải làm đi làm lại. Trong khi đó, các hoạt động không cần phải làm quá nhiều vật dụng, giáo viên không phải mang vác nặng nề. Tiết kiệm công sức của học sinh: Các hoạt động giáo dục diễn ra một cách nhẹ nhàng nên các em được tiếp thu và lĩnh hội kiến thức một cách thoải mái, không khô cứng, đồng thời lại giúp các em có hứng thú học tập và rèn luyện. Tiết kiệm kinh phí: Việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả và việc tận dụng các đồ dùng dạy học có sẵn trong thực tế sẽ giúp cho giáo viên và cả phụ huynh học sinh phần nào tiết kiệm được kinh phí chuẩn bị đồ dùng cho các hoạt động học tập. 5.2. Hiệu quả về mặt xã hội Nâng cao chất lượng giáo dục chung của nhà trường nhờ hiệu quả của công tác giáo dục và phụ đạo cho các học sinh yếu kém, học sinh cá biệt. Góp phần thiết thực vào việc củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh. Qua đó giúp các em học sinh nói chung, đặc biệt là những học sinh cá biệt đều có điều kiện tích cực tham gia vào hoạt động lĩnh hội kiến thức, thực hành và rèn luyện các kĩ năng. Xây dựng được môi trường giáo dục nhẹ nhàng, vui tươi từ đó giúp các em có điều kiện và cơ hội để rèn luyện bản thân. Việc khích lệ học sinh sẽ giúp các em thêm quyết tâm phấn đấu để cùng tiến bộ. Hình thành nhân cách đạo đức, phẩm chất tốt đẹp cho các em học sinh. Các em sẽ dần trở thành những con người có ý thức trách nhiệm và tự giác hơn trong mọi việc. Xây dựng cho học sinh tính kỉ luật, tính tổ chức, tính sáng tạo, linh
  5. 5 động, rèn cho học sinh ý thức tự học, tự quản, tự chịu trách nhiệm. Đặc biệt hình thành cho học sinh cá biệt ý thức biết tự vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Giúp học sinh bước đầu hình thành và phát triển các năng lực và phẩm chất cần có của người học sinh. Giúp giáo viên củng cố thêm kinh nghiệm cho bản thân, đặc biệt là rèn được sự kiên nhẫn, tình thần chịu đựng mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Những biện pháp không chỉ có tác dụng giúp các em học sinh hình thành nhân cách đạo đức tốt, hoàn thiện cả về đức - trí - thể - mĩ mà đó còn là nền móng ban đầu giúp các em ngày càng phát triển về nhân cách, trí tuệ để sau này trở thành những con người có tài có đức, có ích cho xã hội. 5.3. Giá trị làm lợi khác - Giúp học sinh tăng động cơ học tập và rèn luyện Đối với học sinh, sự gần gũi thân thiết và những bài học, những câu chuyện nhỏ của giáo viên sẽ giúp các em dần hiểu được vai trò của việc học. Từ đó các em sẽ dần có động cơ và ý thức học tập, rèn luyện. Đặc biệt với những học sinh cá biệt thì việc giúp các em có động cơ học tập là điều hết sức cần thiết. Việc áp dụng các biện pháp, các hình thức, các cách tổ chức các hoạt động giáo dục một cách phong phú và linh hoạt sẽ giúp các em học sinh thích thú, hào hứng khi tham gia. Môi trường giáo dục vui vẻ, thoải mái giúp làm tăng sự hứng thú học tập của học sinh. Các em sẽ tự giác thi đua học tập cũng như việc thực hiện tối mọi nội quy nền nếp và các phong trào thi đua. - Giúp hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất đạo đức cho học sinh. Các bài học ý nghĩa, các câu chuyện lịch sử mà giáo viên lồng ghép trong quá trình giáo dục sẽ giúp các em học sinh có thêm hiểu biết về một số chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi. Từ đó các em có ý thức thực hiện theo những chuẩn mực đạo đức đó. Các em dần có kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân cũng như mọi người xung quanh theo chuẩn mực đã học để từ đó có những hành vi ứng xử phù hợp. Đồng thời giúp học sinh hình thành thái độ tự trọng, tự tin; yêu thương, tôn trọng con người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu. - Mở rộng vốn sống và vốn hiểu biết thực tế cho học sinh Việc lồng ghép các hoạt động giáo dục, các kiến thức thực tế vào các bài học, đồng thời sử dụng công nghệ thông tin để học sinh có thể nhìn thấy những hình ảnh thực tế sẽ giúp học sinh mở rộng hiểu biết và vốn sống của bản thân. - Hình thành và phát triển tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc cho các em học sinh. Qua một số chương trình truyền hình được thực hiện bởi những người nước ngoài khi phỏng vấn một số bạn trẻ Việt Nam về lịch sử của chính đất nước mình thì một kết quả đáng buồn là rất nhiều các bạn trẻ Việt Nam đều không có sự hiểu biết về chính lịch sử của quê hương đất nước mình. Thực tế là giới trẻ
  6. 6 ngày nay nói chung và các em học sinh nói riêng phần nào không biết, không hiểu, không nắm vững những truyền thống lịch sử của dân tộc. Bởi lẽ trong nhà trường, các bài học về lịch sử thường khô khan khiến các em khó ghi nhớ. Trong khi đó, xã hội quá phát triển, học sinh học theo những thứ dễ thu hút trên mạng internet mà không hào hứng với việc tìm hiểu truyền thống lịch sử dân tộc. Vậy với các biện pháp đã thực hiện, đặc biệt là việc cho học sinh tìm hiểu truyền thống lịch sử qua các video hấp dẫn, cũng như tổ chức cho học sinh thăm các địa chỉ đỏ sẽ giúp học sinh nắm bắt và ghi nhớ truyền thống lịch sử tốt hơn. Từ đó giúp hình thành và phát triển ở các em học sinh tình yêu quê hương đất nước, tự hào truyền thống dân tộc đồng thời giáo dục nhân cách và phẩm chất đạo đức cho học sinh. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. CƠ QUAN ĐƠN VỊ Đồ Sơn, ngày 16 tháng 02 năm 2024 ÁP DỤNG SÁNG KIẾN NGƯỜI VIẾT ĐƠN Mai Thị Huyền
  7. 7 I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Những biện pháp này được áp dụng trong công tác giảng dạy, giáo dục và rèn luyện học sinh trong trường học. 3. Tác giả - Họ và tên: Mai Thị Huyền - Ngày/tháng/năm sinh: 09-04-1986 - Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên Tiểu học - Trường Tiểu học Hợp Đức. - Điện thoại: DĐ: 0766430188 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến - Tên đơn vị: Trường Tiểu học Hợp Đức. - Địa chỉ: Trường Tiểu học Hợp Đức - Quận Đồ Sơn - Thành phố Hải Phòng. - Điện thoại: 0313860372
  8. 8 II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT 1. Tóm tắt tình trạng các giải pháp đã biết Để nâng cao chất lượng giáo dục thì người giáo viên luôn phải tìm tòi và áp dụng các phương pháp hữu hiệu nhất trong công tác giáo dục học sinh, đặc biệt là các biện pháp giáo dục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt. Trong quá trình giảng dạy nhiều năm qua, tôi đã tìm hiểu và học hỏi các đồng nghiệp đi trước các biện pháp giáo dục và phụ đạo các học sinh yếu kém, học sinh cá biệt như: Tìm hiều đặc điểm tình hình hoàn cảnh gia đình học sinh để nắm bắt thực trạng, xác định nguyên nhân dẫn đến sự cá biệt ở một số học sinh; xây dựng kế hoạch giáo dục cho từng đối tượng; phát huy các mô hình học tập như đôi bạn cùng tiến để học sinh theo dõi và giúp đỡ nhau. Đặc biệt, giáo viên chú trọng việc rèn luyện về phẩm chất đạo đức cho các em học sinh, hướng dẫn các em thực hiện nền nếp của trường và làm quen với phương pháp học tập. Bên cạnh đó, giáo viên cũng đã sử dụng một số các biện pháp khen thưởng động viên học sinh để các em tích cực hơn. Đồng thời, người giáo viên luôn cố gắng làm tốt công tác phối kết hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong việc giáo dục và kèm cặp các em học sinh 2. Ưu điểm của giải pháp Các phương pháp trước đây đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của giáo dục nói chung cũng như công tác giáo dục những học sinh yếu, học sinh cá biệt nói riêng. Phần nào giúp các em học sinh yếu kém, học sinh cá biệt có hứng thú học tập và rèn luyện. Đã đảm bảo tính phù hợp với lứa tuổi học sinh. Các biện pháp đã phát triển được một số kĩ năng, năng lực, phẩm chất cho học sinh đặc biệt là những học sinh cá biệt, đồng thời giúp xóa đi khoảng cách giữa các học sinh yếu với các bạn trong lớp. Hình thành cho các em những phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Giúp học sinh cá biệt bước đầu có sự tự tin trong học tập và giao tiếp. Các em có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, từ đó các em có ý thức học tập, rèn luyện. Mặt khác, các biện pháp đã phần nào giúp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, phát huy được tính chủ động, tích cực học tập của học sinh, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nhằm nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh. 3. Hạn chế Với các biện pháp đã biết dù đã phần nào đáp ứng được mục tiêu giáo dục, rèn luyện những học sinh yếu kém, học sinh cá biệt, nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục nói chung tuy nhiên chưa thực sự tạo ra một môi trường giáo dục vui tươi thoải mái và hiệu quả để cho các em học sinh yếu, học sinh cá biệt có thói quen tự học, tự quản, tư duy sáng tạo và mạnh dạn tham gia các hoạt động. Việc giáo viên chưa thực sự tìm ra những thế mạnh để tác động vào động cơ học tập của các em cá biệt sẽ làm cho các em không có hứng thú học tập. Trong khi đó, việc giáo viên quá nghiêm khắc, cứng nhắc sẽ khiến các em thêm sợ hãi, chán học. Có khi học sinh sẽ nảy sinh tình trạng chống đối.
  9. 9 Đối với những học cá biệt, đặc biệt là những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em thường thiếu thốn tình cảm và sự quan tâm. Đôi khi các em đến trường mà trang phục và vệ sinh cá nhân không được sạch sẽ như các bạn. Thực tế, một số giáo viên sợ tiếp xúc gần với những học sinh này sẽ khiến cho những học sinh khác kì thị các em. Điều đó sẽ ảnh hưởng lớn đến tâm lý của các em, khiến các em thấy mình bị cô lập. Việc giáo viên tìm hiểu hoàn cảnh học sinh chỉ qua hồ sơ, sổ sách mà không dành thời gian đến tận nhà học sinh để tìm hiểu sẽ khiến giáo viên không nắm bắt chính xác được nguyên nhân, cũng như hoàn cảnh của các học sinh cá biệt. Điều đó khiến các biện pháp giáo dục không đạt được hiệu quả cao. Đôi khi giáo viên còn quá nặng nề về chất lượng học tập, dành quá nhiều thời gian cho việc dạy các môn học mà chưa chú trọng đến việc hình thành và phát triển đạo đức, nhân cách và phẩm chất tốt đẹp cho các em học sinh. Trên thực tế, nhiều giáo viên không đủ kiên trì với những đối tượng học sinh cá biệt nên các biện pháp giáo dục áp dụng một cách nửa vời vì khả năng tiếp thu của một số học sinh cá biệt thực sự là rất chậm nên đôi khi giáo viên không đủ kiên nhẫn sẽ chán nản, hình thành suy nghĩ buông bỏ. III. NỘI DUNG GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN 1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến Để giáo dục và đào tạo ra những thế hệ học sinh phát triển toàn diện thì người giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng. Giáo viên có trách nhiệm gieo vào tâm hồn các em những cái hay, cái đẹp, hình thành ở các em khả năng thích ứng với cuộc sống. Tuy nhiên nhiệm vụ giáo dục học sinh không hề đơn giản bởi không phải tất cả các em học sinh đều có trình độ tiếp thu và ý thức học tập như nhau mà sẽ luôn có một bộ phận nhỏ là học sinh yếu, học sinh cá biệt. Nếu không giáo dục tốt các đối tượng học sinh này sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giáo dục chung. Học sinh cá biệt ở đây bao gồm những học sinh cá biệt về học tập và cá biệt về đạo đức, lối sống, ý thức kỷ luật. Một số học sinh yếu, học sinh cá biệt là do mang những dị tật bẩm sinh nhưng đa phần học sinh cá biệt là do những nguyên nhân khác nhau. Trong đó phải kể đến yếu tố về môi trường sống và hoàn cảnh gia đình. Những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hoặc bố mẹ làm xa, phó mặc con cái cho người thân chăm sóc, từ đó các em thua thiệt và sa sút so với bạn bè, khiến các em phát sinh tâm lí lười học. Ngoài ra, một bộ phận nhỏ gia đình có cha mẹ bất hòa, bố mẹ bỏ nhau, không quan tâm đến con cái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý và nhận thức của các em. Bên cạnh đó, do sự phát triển của mạng lưới thông tin hiện đại đã ảnh hưởng đến tầng lớp thanh thiếu niên và học sinh. Một số bậc cha mẹ vì chiều con hoặc vì để con chịu ngồi yên nên cho con sử dụng điện thoại, tivi, Ipad từ rất sớm dẫn đến các em bị nghiện, bị cuốn hút vào những trò chơi vô bổ, không gian ảo. Nhiều trẻ bị tự kỷ, có khuynh hướng bạo lực. Từ nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc giáo dục và phụ đạo cho những học sinh yếu, học sinh cá biệt. Đồng thời nhằm giúp các em học sinh nói chung dần hình thành nhân cách đạo đức, trở thành những con người toàn diện,
  10. 10 tôi đã tìm tòi và áp dụng một số biện pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cụ thể như sau: Biện pháp 1: Giáo viên xây dựng hình mẫu chuẩn mực của bản thân. Giáo viên phải tự hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của mình và phải có trí tuệ, có lương tâm, sống mẫu mực. Mọi lời nói, tác phong của giáo viên phải thật chuẩn mực. Đồng thời người giáo viên phải thực sự giàu lòng nhân ái, nhiệt tình, tâm lý và phải có tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học đồng thời cũng phải mềm dẻo và luôn phải có tinh thần cầu tiến ham học hỏi. Biện pháp 2: Nắm bắt thực trạng, tình hình cụ thể của học sinh. Từ đầu năm học, giáo viên cần phải thực hiện một số bước mang tính tiền đề làm cơ sở để áp dụng biện pháp giáo dục học sinh yếu, học sinh cá biệt một cách hiệu quả nhất đó là khảo sát và phân loại thực trạng học sinh, xác định các nguyên nhân dẫn đến việc học sinh cá biệt. Không chỉ tìm hiểu qua hồ sơ, qua thông tin của giáo viên ở lớp học trước mà giáo viên cần phải đến thăm nhà để nắm bắt chính xác hoàn cảnh của học sinh. Việc tìm hiểu học sinh phải thực hiện xuyên suốt trong cả năm học để có những điều chỉnh phù hợp. Đồng thời giáo viên cần trao đổi trực tiếp với học sinh để nắm bắt tâm tư của các em. Biện pháp 3: Hoàn thiện công tác tổ chức lớp học Việc lựa chọn một đội ngũ cán bộ lớp đủ uy tín và có năng lực điều khiển tập thể lớp sẽ giúp các em phát huy tối đa tính tự chủ, tự quản của bản thân và giúp ích rất nhiều cho giáo viên trong công tác theo dõi những học sinh cá biệt. Để giáo dục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt hiệu quả thì giáo viên cần xếp chỗ ngồi hợp lí cho những đối tượng học sinh này. Giáo viên cần phải xếp những học sinh đó ở những vị trí giáo viên dễ theo dõi nhất, từ đó mới có thể kịp thời điều chỉnh, uốn nắn các em. Giáo viên nên xếp những học sinh ngoan, học tốt ngồi cạnh một học sinh cá biệt để giúp đỡ đồng thời nhắc nhở bạn. Biện pháp 4: Xây dựng kế hoạch phụ đạo và giáo dục cụ thể Sau khi đã nắm bắt được hoàn cảnh gia đình, tìm hiểu được nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém và những biểu hiện cá biệt ở học sinh, giáo viên xây dựng kế hoạch phụ đạo cho các em. Giáo viên căn cứ vào tình trạng yếu kém, cá biệt của từng học sinh và nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó ở các em để xây dựng kế hoạch phụ đạo và giáo dục cụ thể. Ví dụ: Với những học sinh khuyết tật, thiểu năng trí tuệ: Giáo viên cần phải xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân phù hợp với đặc điểm thể chất, tâm lí, khả năng đáp ứng các yêu cầu học tập của học sinh khuyết tật. Xác định mục tiêu giáo dục cần đạt được cho cả năm học, từng học kì, từng tuần, từng tháng về kiến thức, kĩ năng, hành vi ứng xử và phục hồi chức năng. Với những học sinh yếu do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ không kèm cặp con em thì ngoài việc xây dựng kế hoạch phụ đạo cụ thể giáo viên còn cần phải trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của việc quan tâm đến các con. Đối với những học sinh yếu do nguyên nhân từ chính bản thân các em như lười học thì giáo viên phải tìm tòi các biện pháp phù hợp để khắc phục tình trạng lười học ở các em, làm sao để tạo cho các em hứng thú học, thích học.
  11. 11 Đối với những học sinh cá biệt về phẩm chất đạo đức, hay quậy phá, trêu chọc, bắt nạt bạn bè và có những hành vi tự do trong lớp học: Giáo viên cần phải dùng kỷ luật kết hợp với tình thương để dần cảm hóa. Tìm ra ưu điểm của các em để phát huy, khích lệ động viên kịp thời. Biện pháp 5: Lập thời gian biểu giáo dục và phụ đạo thêm cho các em trong các tiết học buổi 2, các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt Đội ... Đối với những học sinh yếu, học sinh cá biệt luôn không tập trung trong lớp thì trong thời lượng một tiết học các em sẽ không thể tiếp thu và ghi nhớ sâu kiến thức. Chính vì vậy mà giáo viên cần phụ đạo cho các học sinh yếu ngoài thời lượng các tiết học chính như các tiết bổ trợ, thời gian sau mỗi buổi học, thời gian sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt Đội Giáo viên sắp xếp thời gian để kèm cặp những học sinh yếu, học sinh cá biệt sau mỗi buổi học tầm khoảng 20-30 phút. Dựa vào thực tế các em yếu mặt nào thì phụ đạo mặt đó. Đặc biệt đối với những học sinh cá biệt về đạo đức, thường các em không thích học, hay quậy phá thì giáo viên cần phải tạo hứng thú cho các em. Trong buổi chào cờ và sinh hoạt lớp, giáo viên cần phải nhận xét chu đáo, nêu gương người tốt, việc tốt để các em noi theo. Đặc biệt, giáo viên không nên nặng về kiểm điểm, phê bình. Biện pháp 6: Phát huy vai trò của truy bài đầu giờ. Việc truy bài đầu giờ và kiểm tra đồ dùng sách vở của học sinh trước mỗi buổi học là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Việc làm này sẽ khiến các em học sinh có ý thức học bài và chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ. Qua đó còn giúp rèn kĩ năng tự phục vụ, tự quản cho học sinh. Biện pháp 7: Xây dựng môi trường học tập thân thiện. Phát huy vai trò các mô hình học tập như: đôi bạn cùng tiến, hoạt động nhóm Thay vì việc giáo viên trách phạt mỗi khi học sinh không làm được bài, hay nghịch ngợm thì người giáo viên cần phải thực sự có cái tâm của người làm nghề giáo. Giáo viên phải như những nhà tâm lí học, luôn bao dung, vị tha, kiên nhẫn đối với các em, gần gũi, lắng nghe và tạo sự thân thiện cần thiết làm nền tảng để thực hiện được các cách thức giáo dục của mình. Học sinh sẽ cảm thấy sợ, thấy căng thẳng khi bị áp đặt, gò ép. Chính vì vậy giáo viên cần phải tạo môi trường học tập thoải mái để giúp các em cảm thấy việc học nhẹ nhàng chứ không phải là một gánh nặng. Tuy nhiên tạo môi trường học tập thân thiện không có nghĩa là giáo viên quá thoải mái với học sinh mà vẫn phải giữ nguyên tắc đối xử thân thiện nhưng phải nghiêm khắc. Giáo viên cần phát huy tốt các vai trò của các mô hình học tập như “Đôi bạn cùng tiến”, “Bạn giúp bạn” Giáo viên phân công những học sinh khá giỏi kèm cặp những học sinh yếu, học sinh cá biệt trong lớp. Điều này giúp các em thân thiện nhau hơn, môi trường học tập thoải mái hơn. Những học sinh yếu sẽ bớt mặc cảm trước những học sinh giỏi và các bạn trong lớp, những học sinh hay nghịch ngợm quậy phá cũng dần ý thức mình cần phải thay đổi. Biện pháp 8: Giáo dục học sinh cá biệt bằng sự kết hợp giữa kỷ luật, trách nhiệm và tình thương. a. Giáo dục học sinh cá biệt bằng sự kết hợp giữa kỷ luật, trách nhiệm và tình thương.
  12. 12 Đối với những học sinh cá biệt, giáo viên phải uốn nắn, định hướng ngay khi các em mắc những lỗi nhỏ. Kỷ luật là một hình thức giáo dục không chỉ có tác dụng giáo dục những học sinh vi phạm mà còn răn đe các em học sinh khác. Tuy nhiên, kỷ luật là hình thức giáo dục cuối cùng và bắt buộc thì mới phải dùng đến. Kỷ luật phải kết hợp với tình yêu thương. Có như vậy thì người giáo viên mới không khắc sâu những vết thương vào tâm hồn non nớt của học sinh. Đừng làm các em học sinh rơi vào trạng thái thấy mình là kẻ cá biệt và cô độc trong lớp. Mục đích của việc làm này là dùng tình thương để cảm hóa và giáo dục với mong muốn giúp học sinh ngày càng học tập tốt hơn, có kỷ luật hơn. Giáo viên tránh đối xử thô bạo, trách móc các em. Hãy tôn trọng nhân cách của các em. Các em cần được đối xử tử tế, cần được yêu thương và tôn trọng. Không ai được ngược đãi các em chỉ vì các em học chậm, học kém, chưa ngoan. b. Luôn gần gũi quan tâm và mềm dẻo linh hoạt khi giáo dục học sinh yếu, học sinh cá biệt. Để giáo dục được học sinh yếu kém, học sinh cá biệt, trước hết phải biết chấp nhận và đón nhận các em, thỉnh thoảng vui chơi cùng các em. Đó là cách mang các em đến gần mình hơn, tin tưởng mình hơn. Khi niềm tin đủ lớn, người giáo viên sẽ thuận lợi trong việc uốn nắn hành vi, khai sáng tư duy, định hướng nhận thức... Nên xử lý mềm mỏng đối với học sinh cá biệt nếu không sẽ không có hiệu quả, có khi gặp phản ứng không tốt ngược trở lại. Tuy nhiên mềm mỏng nhưng đôi lúc phải cứng rắn. Dù lỗi lầm lớn nhưng nếu em đó biết nhận lỗi và nghiêm túc sửa lỗi thì cần tạo cho học sinh đó cơ hội được chuộc lỗi và cơ hội tự làm chủ bản thân, có niềm tin nghị lực để vươn lên. Đối với học sinh cá biệt, việc gần gũi với các em quả là một vấn đề không đơn giản. Nếu giáo viên thiếu tế nhị một chút thì khó mà có thể làm được điều đó. Chẳng hạn việc giáo viên thường xuyên phê bình, dùng nhiều lời xúc phạm sẽ làm tổn thương các em, sẽ khiến các em càng xa cách. Thay vì đó, giáo viên cần tạo mối quan hệ gần gũi, thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các em. Những lời khuyên răn dạy bảo của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối với các em. Đôi khi chỉ bằng những hành động nhỏ nhặt như giúp các em cài lại khuy áo, buộc lại tóc v.v cũng giúp các em cảm nhận được tình thương. Điều đó sẽ giúp các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn. Giáo viên cần tôn trọng quyền riêng tư của học sinh. Hãy vừa là một người giáo viên, một người mẹ, một người bạn để các em có thể cảm thấy thoải mái và tin tưởng. Ngoài ra, thay vì chỉ biết trách phạt một cách cứng nhắc thì giáo viên cũng phải mềm dẻo linh hoạt khi giáo dục học sinh cá biệt. Tuy nhiên mềm dẻo nhưng khi cần cũng phải có sự nghiêm khắc và cứng rắn. Giáo viên phải đảm bảo lời nói luôn đi đôi với việc làm, không hứa suông, vận dụng linh hoạt theo phương châm “lạt mềm buộc chặt”. c. Giáo viên luôn phải điềm tĩnh, kiềm chế, không kỳ thị với các học sinh cá biệt. Một yếu tố hết sức quan trọng trong việc giáo dục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt đó là giáo viên phải luôn điềm tĩnh, biết tự kiềm chế, biết nhẫn lại vì việc giáo dục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt là một sự thử thách rất lớn đối
  13. 13 với giáo viên. Giáo viên không nên nóng vội, không nên quá khắt khe, xử lí mạnh tay bằng những hình thức kỉ luật nặng nề, không nên thành kiến với các em. Giáo viên luôn phải biết kiềm chế nóng giận và phải bao dung đối với các em để từ đó các em xóa đi rào cản, khoảng cách và sự sợ hãi. Đặc biệt giáo viên tuyệt đối không được xúc phạm thân thể, danh dự và nhân phẩm của học sinh. Giáo viên không được có cái nhìn kỳ thị với các học sinh cá biệt. Không được tỏ ra thái độ khó chịu, coi thường hay mắng nhiếc học sinh trước lớp. Đặc biệt không cô lập các em ra khỏi tập thể. d. Làm tốt công tác chăm sóc học sinh Đối với học sinh nói chung và đặc biệt là những học sinh cá biệt, chỉ cần một hành động, một lời nói ấm áp của giáo viên cũng giúp các em cảm thấy vui và hạnh phúc. Người giáo viên không chỉ có nhiệm vụ giáo dục, dạy dỗ mà còn phải có trách nhiệm chăm sóc học sinh. Ngay từ đầu năm học, giáo viên cần phải tìm hiểu để nắm bắt tình hình xem có học sinh nào bị mắc bệnh bẩm sinh hay bệnh gì không để có biện pháp và hình thức chăm sóc, quan tâm phù hợp. Ví dụ: Hàng ngày, giáo viên phải thường xuyên quan tâm và phát hiện kịp thời những thay đổi về sức khỏe của học sinh. Giáo viên cần phải quan tâm nhắc nhở các em ăn đủ chất, cân bằng dinh dưỡng khi ăn tại trường. Đặc biệt, giáo viên cần phải quan tâm, chăm sóc các em hàng ngày từ những điều nhỏ nhặt nhất như giúp các em điều chỉnh trang phục cho gọn gàng. Sau giờ ngủ trưa, giáo viên chải tóc và buộc gọn gàng cho các em. Khi các em ngủ tại trường, giáo viên cần phải lưu ý đến việc giữ ấm vào mùa đông và đảm bảo mát mẻ vào mùa hè cho các em. Giáo viên có thể tổ chức một bữa tiệc sinh nhật nhỏ vào dịp sinh nhật của các em hoặc tặng lại cho các em học sinh khó khăn những bộ quần áo còn sử dụng tốt. Điều đó đối với những học sinh cá biệt, đặc biệt là những học sinh thiếu hụt tình cảm sẽ là một điều vô cùng có ý nghĩa. Biện pháp 9: Tác động vào động cơ học tập và rèn luyện cho học sinh; tạo dựng niềm tin, trao cho học sinh cơ hội được thể hiện và xây dựng nền nếp, phương pháp học tập cho học sinh a. Tác động vào động cơ học tập và rèn luyện cho học sinh. Đầu tiên giáo viên cần tác động và hình thành động cơ học tập để các học sinh này thấy rõ tầm quan trọng của việc học. Có thể đưa ra một số hình ảnh, video về nạn thất học như video về những đứa trẻ không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của người lớn rồi lại bị bạn bè khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, lớn lên cũng không có công việc ổn định, không lo được cho bản thân. Ngược lại những em có học thì làm việc thuận lợi dễ dàng, cuộc sống hạnh phúc. Mặc dù lứa tuổi học sinh còn non nớt về nhận thức, tuy nhiên ít nhiều những hình ảnh thực tế này sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của các em. Từ đó các em biết mình cần phải học tập chăm chỉ. Dù các em học kém đến mấy, có cá biệt và khó giáo dục đến mấy thì bên trong các em sẽ luôn tồn tại những điểm tích cực. Là người giáo viên cần phải phát hiện những ưu điểm ẩn sâu bên trong mỗi học sinh để từ đó có những phương pháp đúng đắn khơi gợi niềm tin cho các em. Để cho các em tự nhận thấy bản thân không hề kém cỏi và vứt bỏ được sự mặc cảm trong lòng từ đó có
  14. 14 thể hội nhập với các bạn trong lớp. Giáo viên cần nhẹ nhàng phân tích những ưu - nhược điểm cũng như cái đúng, cái chưa đúng trong nhận thức, hành động của học sinh. Từ đó có thể giúp các em tự nhận ra lỗi lầm của bản thân và tạo cơ hội cho các em sửa đổi. Giáo viên tránh phê bình học sinh trước tập thể lớp. b. Tạo dựng niềm tin, trao cho học sinh cơ hội được thể hiện Giáo viên phải biết trao cho học sinh niềm tin, tin vào nỗ lực của các em. Để điều hành được học sinh cá biệt, người giáo viên phải sắm đủ các vai: Khi thì nghiêm khắc, lúc lại là bờ vai cho các em dựa. Khi là nhà tâm lý, lúc khác lại là người cố vấn, đôi khi còn trở thành người thân, người cha, người mẹ hiền bù đắp một phần những tình cảm mà học sinh thiếu thốn. Cứ như thế, kiên trì cho đến khi các em tự nhận ra rằng mình phải thay đổi. Đồng thời, giáo viên cần trân trọng những tiến bộ của học sinh dù là nhỏ nhất. Cùng với đó, giáo viên cần biểu dương hay dành lời khen cho các em trước tập thể lớp để các em thấy được giá trị của bản thân, cảm thấy mình hữu ích. Điều này sẽ giúp tinh thần học tập của các em được nhân lên, tạo ra sự tương tác. Giáo viên luôn cần thận trọng khi phát ngôn và tôn trọng quyền lựa chọn, quyết định của các em học sinh trong phạm vi cho phép chứ không nên áp đặt thô bạo với các em, không xúc phạm làm tổn thương danh dự các em trước tập thể. Giáo viên mạnh dạn giao việc cho học sinh, hướng dẫn để các em làm theo định hướng của giáo viên nhưng trên cơ sở tạo điều kiện cho các em thể hiện tính sáng tạo, tuyệt đối không được áp đặt học sinh. c. Xây dựng nền nếp và phương pháp học tập: Đối với học sinh cá biệt thường sẽ ngại học, mọi hoạt động của các em luôn mang tính cảm hứng mà không muốn theo một nền nếp nào. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học, giáo viên cần phải xây dựng và hướng dẫn tỉ mỉ cho các em học sinh một phương pháp và nền nếp học tập hiệu quả. Biện pháp 10: Luôn làm mới các hoạt động giáo dục và dạy học. Áp dụng trò chơi, ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả. Giáo dục nhận thức, đạo đức, nhân cách cho học sinh qua các hoạt động giáo dục đặc biệt là giáo dục thông qua tìm hiểu về lịch sử của quê hương, đất nước. a. Luôn làm mới các hoạt động giáo dục và dạy học Giáo viên luôn cần phải cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy, tiết sau mới hơn tiết trước để tránh việc học sinh cảm thấy nhàm chán. Sau một tiết học, trò học được nhiều tri thức bổ ích tạo nên sự đam mê học hỏi, thích khám phá, tự khẳng định mình. Việc tổ chức tốt các hình thức dạy học nhằm cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập một cách chủ động tích cực như vận dụng các trò chơi, thay đổi hình thức tổ chức v.v sẽ giúp nâng cao hiệu quả của tiết học. Qua đó những học sinh kém, học sinh cá biệt, luôn không tập trung bắt buộc cũng phải hoạt động. Các em dần có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh giá trước đông người một cách lưu loát. Đặc biệt với những học sinh yếu, việc áp dụng các hình thức dạy học phong phú sẽ giúp giảm bớt căng thẳng trong giờ học, giúp các em mạnh dạn hơn, hứng thú với bài học và ghi nhớ kiến thức tốt hơn. Bên cạnh đó những học sinh cá biệt, hay nghịch ngợm trêu đùa bạn cũng bắt buộc phải tham gia vào quá trình học tập mà không thể lười biếng.
  15. 15 b. Áp dụng trò chơi, ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả. Việc áp dụng các trò chơi sẽ khiến môi trường học tập diễn ra thoải mái và rất hứng thú vì nó phù hợp với tâm lí học sinh. Trong một trò chơi, các em học sinh sẽ phấn đấu hết mình để dành chiến thắng. Bên cạnh đó việc ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả vào giảng dạy sẽ giúp nâng cao hiệu quả giờ dạy. Qua các hình ảnh, các tư liệu sẽ giúp thu hút sự chú ý của học sinh vào bài giảng. c. Giáo dục nhận thức, đạo đức, nhân cách cho học sinh qua các hoạt động giáo dục đặc biệt là giáo dục thông qua tìm hiểu về truyền thống lịch sử của quê hương, đất nước. Giáo dục đạo đức phải làm ngay từ nhỏ, càng sớm càng tốt, nhưng phải mang tính phù hợp bởi đây là mục tiêu và là nhiệm vụ hàng đầu. Đặc biệt việc giáo dục nhận thức, đạo đức, nhân cách cho học sinh thông qua tìm hiểu về lịch sử của quê hương, đất nước luôn đem lại những hiệu quả cao trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Các giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc ta là một kho tàng vô tận và quý giá về những bài học để giúp giáo dục đạo đức, nhân cách của con người. Vì vậy để giúp giáo dục tốt các học sinh cá biệt, người giáo viên cần phải vận dụng một cách tốt đa và hiệu quả những điều này vào giáo dục học sinh. Nếu có điều kiện có thể cho các em thăm quan trực tiếp tại các địa chỉ đỏ để các em được tận mắt nhìn thấy và nghe thấy những câu chuyện hay và giá trị về lòng yêu nước, yêu dân tộc. Hoặc cũng có thể tổ chức cho học sinh xem video để từ đó dần hình thành và nuôi lớn tinh thần tự tôn dân tộc trong các em. Xuất phát từ lòng yêu nước, yêu quê hương đó, các em học sinh sẽ càng có thêm động lực để phấn đấu và học tập. Biện pháp 11: Thường xuyên theo dõi, nắm bắt đầy đủ chính xác mọi hoạt động của học sinh để có những điều chỉnh kịp thời và làm tốt công tác thi đua khen thưởng Trong quá trình áp dụng phương pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt cần có sự tương tác và hỗ trợ học sinh thường xuyên. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần có sự đo lường để điều chỉnh sao cho phù hợp với mục tiêu đặt ra. Thường xuyên theo dõi, nắm bắt lỗi vi phạm hay những biểu hiện tích cực của học sinh trong từng buổi học, trong từng hoạt động để tác động, uốn nắn hoặc biểu dương học sinh kịp thời, tuy nhiên tránh sự chì chiết học sinh để học sinh hiểu nhầm giáo viên trù dập mình. Làm tốt công tác thi đua khen thưởng để khích lệ tinh thần phấn đấu của học sinh. Ví dụ: Tôi đã dùng hình thức in thẻ hoa. Mỗi khi học sinh khi có sự tiến bộ trong học tập và rèn luyện sẽ nhận được một thẻ hoa. Sau đó khi để dành được 10 thẻ hoa các em sẽ được đổi một món quà mà các em thích như tẩy, bút chì . Tôi nhận thấy sau khi áp dụng hình thức này các em học sinh cá biệt dần hình thành ý thức thi đua từ đó các em có động lực trong học tập và rèn luyện. Biện Pháp 12: Phối kết hợp chặt chẽ với các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường, đặc biệt là với phụ huynh học sinh.
  16. 16 Phương pháp giáo dục học sinh yếu kém, học sinh cá biệt ở tiểu học cần được phối hợp thực hiện đồng bộ và thường xuyên giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Giáo viên phải thường xuyên báo cáo tình hình của lớp với Ban giám hiệu; Tham mưu, xin ý kiến về biện pháp giáo dục để Ban giám hiệu xem xét thống nhất các phương pháp giáo dục, tạo điều kiện vật chất để thực hiện hoạt động. Giáo viên phối kết hợp chặt chẽ mới phụ huynh học sinh để có thể nắm bắt được hoàn cảnh gia đình, tình trạng sức khỏe và nguyên nhân dẫn đến việc các em học yếu và có những hành vi cá biệt trong lớp. Từ đó giáo viên mới có thể áp dụng các biện pháp giáo dục và kèm cặp phù hơp. Đồng thời giáo viên phải làm tốt việc tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của việc học và rèn luyện phẩm chất đạo đức cũng như vai trò của việc kèm cặp con em mình. Giáo viên cần phải phối kết hợp tốt với các giáo viên bộ môn để có sự phối hợp đồng đều và thực hiện biện pháp đồng bộ giữa các giáo viên để đem lại hiệu quả giáo dục tốt nhất. Giáo viên cần phải phối kết hợp tốt với Tổng phụ trách để tạo điền kiện cho các em học sinh được tham gia vào các hoạt động của nhà trường để giúp các học sinh cá biệt giảm bớt mặc cảm và thêm tự tin mạnh dạn hơn. Qua đó cũng giúp giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức học tập và kỹ năng sống cho các em. Giáo viên cũng phải phối kết hợp với tổ chức Đội, với lãnh đạo nhà trường và cơ sở Đoàn ở địa phương để vận động sự ủng hộ về vật chất cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn. 2. Tính mới, tính sáng tạo. Việc giáo viên hàng ngày luôn gần gũi, mềm dẻo, linh hoạt khi áp dụng các biện pháp dạy dỗ và uốn nắn học sinh nói chung cũng như những học cá biệt, học sinh yếu kém nói riêng bằng phương pháp kết hợp giữa kỷ luật, trách nhiệm và tình thương thay vì việc gò ép cứng nhắc và trách phạt sẽ giúp học sinh thêm tin tưởng và sẵn sàng chia sẻ về học tập, về hoàn cảnh cũng như cảm xúc, tâm trạng của chính các em. Môi trường giáo dục thân thiện không những giúp học sinh nói chung cảm thấy gần gũi mà đặc biệt sẽ giúp các học sinh yếu, học sinh cá biệt thấy mình cũng có vai trò quan trọng trong tập thể lớp, giúp các em giảm bớt căng thẳng và luôn cảm nhận được tình yêu thương từ thầy cô, bạn bè và thấy mình cũng là một phần của tập thể chứ không phải bị cô lập, tách rời. Chính điều này sẽ giúp mọi hoạt động giáo dục, đặc biệt là các biện pháp uốn nắn và cảm hoá những học sinh yếu, học sinh cá biệt luôn diễn ra nhẹ nhàng nhưng lại rất hiệu quả. Các em tiếp thu kiến thức cũng hiệu quả hơn. Việc tìm hiểu, nắm bắt các ưu, nhược điểm để hình thành và tác động vào động cơ học tập của học sinh sẽ giúp các em học sinh phát huy được những điểm mạnh và khắc phục được những hạn chế của mình. Đặc biệt đối với những học sinh yếu kém, học sinh cá biệt, việc giúp các em tìm ra thế mạnh của mình sẽ làm cho các em cảm thấy mình có giá trị và có khả năng làm tốt một số việc. Từ đó các em sẽ thêm tự tin và mạnh dạn hơn. Khi giáo viên mạnh dạn trao cho học sinh cơ hội để thể hiện bản thân sẽ giúp cho các
  17. 17 em thấy bản thân mình được tin tưởng và sẽ quyết tâm thể hiện hết mình. Điều này không chỉ giúp những học sinh bình thường mà với những học sinh cá biệt sẽ là một sự động viên vô cùng lớn. Khi áp dụng các biện pháp giáo dục và phụ đạo học sinh yếu kém, học sinh cá biệt, người giáo viên luôn tuân thủ nguyên tắc luôn tôn trọng, lắng nghe và không kì thị với những học sinh cá biệt sẽ giúp các em thêm tự tin, không thấy bản thân bị cô lập và bớt đi những mặc cảm để từ đó tự giác hơn trong học tập và rèn luyện. Việc giáo viên luôn làm mới các hoạt động giáo dục và dạy học đồng thời áp dụng các trò chơi và ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học kĩ thuật và vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục, dạy học tích cực, áp dụng các mô hình học tập, các hình thức tổ chức phù hợp với lứa tuổi và nội dung của các môn học, bài học cũng như các hoạt động sẽ tạo ấn tượng, gây hứng thú học tập cho học sinh. Bên cạnh đó, việc thường xuyên động viên, khen thưởng, khích lệ kịp thời của giáo viên và của các bạn sẽ giúp các em thêm hứng thú, tự tin hơn trong quá trình học tập và rèn luyện. Các hoạt động học tập và rèn luyện được lồng ghép vào các tiết học cũng như các hoạt động hàng ngày nên dễ đi sâu vào tâm trí của các em. Đặc biệt, việc phát huy tối đa vai trò tự quản, tự học, tự chịu trách nhiệm của bản thân các em học sinh sẽ giúp các em mạnh dạn, chủ động hơn trong mọi hoạt động. Giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn và điều chỉnh khi cần còn học sinh luôn giữ vai trò chủ đạo và là người trực tiếp thực hiện. Với các biện pháp giáo dục và phụ đạo các học sinh yếu kém, học sinh cá biệt đã thực hiện sẽ giúp các em học sinh dần hình thành cho mình nhân cách đạo đức và thói quen tự giác học tập. Giúp học sinh hiểu rõ vai trò và nghĩa vụ của mình trong học tập và rèn luyện. Từ đó các em có ý thức tự giác rèn luyện và hoàn thiện chính bản thân mình cả về nhân cách và trí tuệ. Đặc biệt việc giáo dục nhân cách đạo đức cho học sinh thông qua tìm hiểu truyền thống lịch sử của quê hương đất nước sẽ hun đúc và nuôi lớn tình yêu quê hương, tinh thần tự hào dân tộc. Từ đó giúp nhân cách đạo đức của các em dần phát triển tích cực. Các em cũng sẽ có ý thức và trách nhiệm hơn trong mọi việc làm của mình. Việc phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục, giữa nhà trường và gia đình giúp cho học sinh dần hình thành những nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt. Các em sẽ có trách nhiệm hơn trong việc học tập cũng như trong rèn luyện. 3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng, nhân rộng Đây là những biện pháp dễ áp dụng không những chỉ đối với một giáo viên hay một khối lớp cụ thể nào mà có thể áp dụng với tất cả các giáo viên, đặc biệt là đối với giáo viên chủ nhiệm. Không những thế, các biện pháp này còn có thể áp dụng đối với các lớp học khác ở các cấp học khác và các vùng miền khác. 4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp 4.1. Hiệu quả kinh tế Tiết kiệm thời gian cho giáo viên và học sinh: Các hoạt động giáo dục và rèn luyện học sinh không tách biệt mà đều có thể lồng ghép với nhau một cách
  18. 18 phù hợp. Điều đó không chỉ giúp tiết kiệm thời gian cho giáo viên và học sinh mà còn giúp các em học sinh được tiếp cận với các hoạt động giáo dục một cách nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Tiết kiệm công sức cho giáo viên: Giáo viên có thể tìm và tận dụng những vật liệu, đồ dùng, phương tiện dạy học có sẵn trong thực tế và có thể sử dụng lại nhiều lần mà không cần phải làm đi làm lại. Trong khi đó, các hoạt động không cần phải làm quá nhiều vật dụng, giáo viên không phải mang vác nặng nề. Tiết kiệm công sức của học sinh: Các hoạt động giáo dục diễn ra một cách nhẹ nhàng nên các em được tiếp thu và lĩnh hội kiến thức một cách thoải mái, không khô cứng, đồng thời lại giúp các em có hứng thú học tập và rèn luyện. Tiết kiệm kinh phí: Việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả và việc tận dụng các đồ dùng dạy học có sẵn trong thực tế sẽ giúp cho giáo viên và cả phụ huynh học sinh phần nào tiết kiệm được kinh phí chuẩn bị đồ dùng cho các hoạt động học tập. 4.2. Hiệu quả về mặt xã hội Nâng cao chất lượng giáo dục chung của nhà trường nhờ hiệu quả của công tác giáo dục và phụ đạo cho các học sinh yếu kém, học sinh cá biệt. Góp phần thiết thực vào việc củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh. Qua đó giúp các em học sinh nói chung, đặc biệt là những học sinh cá biệt đều có điều kiện tích cực tham gia vào hoạt động lĩnh hội kiến thức, thực hành và rèn luyện các kĩ năng. Xây dựng được môi trường giáo dục nhẹ nhàng, vui tươi từ đó giúp các em có điều kiện và cơ hội để rèn luyện bản thân. Việc khích lệ học sinh sẽ giúp các em thêm quyết tâm phấn đấu để cùng tiến bộ. Hình thành nhân cách đạo đức, phẩm chất tốt đẹp cho các em học sinh. Các em sẽ dần trở thành những con người có ý thức trách nhiệm và tự giác hơn trong mọi việc. Xây dựng cho học sinh tính kỉ luật, tính tổ chức, tính sáng tạo, linh động, rèn cho học sinh ý thức tự học, tự quản, tự chịu trách nhiệm. Đặc biệt hình thành cho học sinh cá biệt ý thức biết tự vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Giúp học sinh bước đầu hình thành và phát triển các năng lực và phẩm chất cần có của người học sinh. Giúp giáo viên củng cố thêm kinh nghiệm cho bản thân, đặc biệt là rèn được sự kiên nhẫn, tình thần chịu đựng mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Những biện pháp không chỉ có tác dụng giúp các em học sinh hình thành nhân cách đạo đức tốt, hoàn thiện cả về đức - trí - thể - mĩ mà đó còn là nền móng ban đầu giúp các em ngày càng phát triển về nhân cách, trí tuệ để sau này trở thành những con người có tài có đức, có ích cho xã hội. 4.3. Giá trị làm lợi khác - Giúp học sinh tăng động cơ học tập và rèn luyện Đối với học sinh, sự gần gũi thân thiết và những bài học, những câu chuyện nhỏ của giáo viên sẽ giúp các em dần hiểu được vai trò của việc học. Từ đó các em sẽ dần có động cơ và ý thức học tập, rèn luyện. Đặc biệt với những học sinh cá biệt thì việc giúp các em có động cơ học tập là điều hết sức cần thiết.
  19. 19 Việc áp dụng các biện pháp, các hình thức, các cách tổ chức các hoạt động giáo dục một cách phong phú và linh hoạt sẽ giúp các em học sinh thích thú, hào hứng khi tham gia. Môi trường giáo dục vui vẻ, thoải mái giúp làm tăng sự hứng thú học tập của học sinh. Các em sẽ tự giác thi đua học tập cũng như việc thực hiện tối mọi nội quy nền nếp và các phong trào thi đua. - Giúp hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất đạo đức cho học sinh. Các bài học ý nghĩa, các câu chuyện lịch sử mà giáo viên lồng ghép trong quá trình giáo dục sẽ giúp các em học sinh có thêm hiểu biết về một số chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi. Từ đó các em có ý thức thực hiện theo những chuẩn mực đạo đức đó. Các em dần có kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân cũng như mọi người xung quanh theo chuẩn mực đã học để từ đó có những hành vi ứng xử phù hợp. Đồng thời giúp học sinh hình thành thái độ tự trọng, tự tin; yêu thương, tôn trọng con người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu. - Mở rộng vốn sống và vốn hiểu biết thực tế cho học sinh Việc lồng ghép các hoạt động giáo dục, các kiến thức thực tế vào các bài học, đồng thời sử dụng công nghệ thông tin để học sinh có thể nhìn thấy những hình ảnh thực tế sẽ giúp học sinh mở rộng hiểu biết và vốn sống của bản thân. - Hình thành và phát triển tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc cho các em học sinh. Qua một số chương trình truyền hình được thực hiện bởi những người nước ngoài khi phỏng vấn một số bạn trẻ Việt Nam về lịch sử của chính đất nước mình thì một kết quả đáng buồn là rất nhiều các bạn trẻ Việt Nam đều không có sự hiểu biết về chính lịch sử của quê hương đất nước mình. Thực tế là giới trẻ ngày nay nói chung và các em học sinh nói riêng phần nào không biết, không hiểu, không nắm vững những truyền thống lịch sử của dân tộc. Bởi lẽ trong nhà trường, các bài học về lịch sử thường khô khan khiến các em khó ghi nhớ. Trong khi đó, xã hội quá phát triển, học sinh học theo những thứ dễ thu hút trên mạng internet mà không hào hứng với việc tìm hiểu truyền thống lịch sử dân tộc. Vậy với các biện pháp đã thực hiện, đặc biệt là việc cho học sinh tìm hiểu truyền thống lịch sử qua các video hấp dẫn, cũng như tổ chức cho học sinh thăm các địa chỉ đỏ sẽ giúp học sinh nắm bắt và ghi nhớ truyền thống lịch sử tốt hơn. Từ đó giúp hình thành và phát triển ở các em học sinh tình yêu quê hương đất nước, tự hào truyền thống dân tộc đồng thời giáo dục nhân cách và phẩm chất đạo đức cho học sinh. CƠ QUAN ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Mai Thị Huyền
  20. 20 PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Giáo viên phụ đạo thêm cho học sinh yếu ngoài các tiết học chính Giáo viên gần gũi học sinh tạo môi trường giáo dục thân thiện Mô hình “Bạn giúp bạn, đôi bạn cùng tiến” Giáo viên chăm sóc giấc ngủ và cắt móng tay đảm bảo vệ sinh cá nhân cho học sinh.