Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp dạy phát âm Tiếng Anh cho học sinh Lớp 1, 2
Bạn đang xem tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp dạy phát âm Tiếng Anh cho học sinh Lớp 1, 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_mot_so_bien_phap_day_phat_am_tieng_a.docx
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp dạy phát âm Tiếng Anh cho học sinh Lớp 1, 2
- ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP ĐỨC -------------------- BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1,2 Tác giả: PHẠM THỊ LƯU Trình độ chuyên môn: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGOẠI NGỮ Chức vụ: GIÁO VIÊN Nơi công tác: TRƯỜNG TIỂU HỌC HỢP ĐỨC Năm học: 2023 – 2024
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: - Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn - Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Đồ Sơn - Trường Tiểu học Hợp Đức Tôi tên là: Phạm Thị Lưu Sinh ngày: 20-10-1987 Nơi công tác: Trường Tiểu học Hợp Đức Chức danh: Giáo viên Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm ngoại ngữ Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “ Một số biện pháp dạy phát âm Tiếng Anh cho học sinh lớp 1, 2”. 1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến - Các em học sinh lớp 1,2 ở trường Tiểu học Hợp Đức. 2. Ngày áp dụng sáng kiến: 19/09/2023 3. Mô tả bản chất sáng kiến: Để giúp các em học sinh trường Tiểu học Hợp Đức tham gia học Tiếng Anh chương trình của bộ một cách tốt nhất, tôi chọn nội dung sáng kiến “ Một số biện pháp dạy phát âm Tiếng Anh cho học sinh lớp 1, 2” để nghiên cứu. - Tính mới, tính sáng tạo Nhằm giúp các em học sinh hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của mẫu câu và giúp các em biết cách sử dụng mẫu câu trong những tình huống giao tiếp cụ thể, thậm chí các em có thể dựa vào mẫu câu đã học, thay đổi chủ ngữ, động từ hoặc tân ngữ để tạo ra những mẫu câu mới mang nội dung ý nghĩa tương tự. Qua đó các em nhận thức được tầm quan trọng của mẫu câu trong việc học Tiếng Anh nói chung và giao tiếp Tiếng Anh nói riêng để các em có thể hiểu được những gì người khác hỏi cũng như những gì các em hỏi người khác có thể hiểu được. - Khả năng áp dụng, nhân rộng
- Trong năm học 2023-2024 tiến hành trong phạm vi học sinh khối lớp 1,2 trường Tiểu học Hợp Đức để rút kinh nghiệm đưa vào áp dụng cho các khối lớp khác ở các năm học tiếp theo. 4. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến - Trình độ chuyên môn của giáo viên - Cơ sở vật chất - Các tài liệu tham khảo. - Kiến thức về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh - Các điều kiện khác có liên quan. 5. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp 5.1. Hiệu quả kinh tế: - Tiết kiệm thời gian của giáo viên trong việc chuẩn bị giáo cụ mà giờ học lại đạt hiệu quả cao hơn. Học sinh chỉ cần dành ra ít thời gian cho việc ôn tập lại mẫu câu Tiếng Anh khi ở nhà vì các em có thể ghi nhớ ngay được mẫu câu trên lớp sau mỗi giờ học. - Tiết kiệm kinh tế một cách tối đa cho giáo viên vì không cần phải cầu kì chuẩn bị đồ dùng học tập, trang thiết bị nặng nề. 5.2. Hiệu quả về mặt xã hội. Giúp các em có vốn kiến thức và tự tin giao tiếp với người nước ngoài, chủ động lĩnh hội các kiến thức thuộc các lĩnh vực khác nhau : Khoa học – kĩ thuật, kinh tế - xã hội, y học Tạo được môi trường học tập nhẹ nhàng, đoàn kết qua đó giúp các em xóa bỏ được cảm giác rụt rè, ngại ngùng trước mọi người và thêm mạnh dạn, tự nhiên hơn. Các em biết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ cùng, xóa đi khoảng cách giữa các học sinh. Qua đó giúp những em có năng khiếu sẽ có cơ hội thể hiện và phát triển, đồng thời giúp các em học sinh yếu không cảm thấy ngại ngùng trước các bạn. 5.3. Giá trị làm lợi khác : - Xây dựng cho học sinh tính kỉ luật, tính tổ chức, tính sáng tao, ý thức tự học, tự quản, tự chịu trách nhiệm,mạnh dạn khi giao tiếp. - Học sinh có thể tự tin giao tiếp với giáo viên nước ngoài, có thể nghe hiểu phản ứng hỏi và trả lời người nước ngoài rất tốt, bớt bị nhầm lẫn các mẫu câu. - Phát triển kĩ năng nghe, nói cho học sinh.
- Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trên trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồ Sơn, ngày 16 tháng 02 năm 2024 NGƯỜI VIẾT ĐƠN Phạm Thị Lưu
- I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “ Một số biện pháp dạy phát âm Tiếng Anh cho học sinh lớp 1, 2” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Các em học sinh khối 1,2 ở trường Tiểu học Hợp Đức. 3. Tác giả - Họ và tên: Phạm Thị Lưu - Ngày/tháng/năm sinh: 20/10/1987 - Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên Tiếng Anh-Trường Tiểu học Hợp Đức. - Điện thoại: DĐ: 0763339479 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: - Tên đơn vị: Trường Tiểu học Hợp Đức. - Địa chỉ: Trường Tiểu học Hợp Đức- Quận Đồ Sơn-Thành phố Hải Phòng. - Điện thoại: 0313860372 II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT 1. Tóm tắt tình trạng các giải pháp đã biết Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ là giao tiếp, để giao tiếp tốt thì đòi hỏi ở người học rất nhiều yếu tố như: Mẫu câu, từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu muốn hiểu và có thể giao tiếp lại với người nước ngoài về mọi lĩnh vực trong cuộc sống thì mẫu câu đóng vai trò khá quan trọng. Tiếng Anh là một ngoại ngữ Quốc tế có tính thông dụng và là một công cụ giao tiếp thiết yếu trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội. Thời đại toàn cầu hoá, nhu cầu giao tiếp giữa mọi người thuộc mọi quốc gia là bắt buộc. Do vậy, việc học tiếng Anh đang trở thành một nhu cầu cần thiết và cấp bách giúp chúng ta tiếp cận, mở rộng hiểu biết với nguồn tri thức tiên tiến trên thế giới ở nhiều lĩnh vực khác nhau Trước đây giáo viên dạy Tiếng Anh thường áp dụng việc dạy mẫu câu với những phương pháp thủ công, truyền thống như: dịch nghĩa câu trong bước giải thích, làm rõ nghĩa của câu hay bước giới thiệu câu một cách trực tiếp bằng cách viết câu lên bảng .mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Với những giải pháp trước đây mà tôi biết cũng có những ưu điểm và hạn chế. 2. Ưu điểm của giải pháp
- - Phần nào giúp học sinh phát âm tương đối chuẩn xác. Qua đó giúp học sinh ghi nhớ chữ viết của từ nhanh và lâu - Học sinh cũng đã biết áp dụng phát âm tốt vào việc giao tiếp với người nước ngoài. - Các phương pháp đã phần nào đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy trong bộ môn tiếng Anh. 3. Hạn chế - Với các biện pháp đã biết chưa thực sự tạo ra một tiết học vui tươi thoải mái cho học sinh để từ đó giúp các em thêm mạnh dạn, tự tin, không ngại ngùng khi phát âm, giao tiếp nói chuyện tiếng Anh trước các bạn và người nước ngoài. - Việc đi theo tiến trình từ đầu đến cuối sẽ làm cho tiết học khô cứng vì thế chưa thể phát huy triệt để tính chủ động, sáng tạo và rèn sự tự tin, mạnh dạn cho học sinh. Chưa tạo cho học sinh được một tâm thế tự tin khi giao tiếp tiếng Anh - Chưa tạo cho học sinh một môi trường thoải mái để rèn cho các em thói quen tự học, tự quản, tự khẳng định mình trước mọi người III. NỘI DUNG GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN 1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến Chúng ta biết rằng Nghe-Nói-Đọc-Viết là bốn kĩ năng ngôn ngữ cần phải được rèn luyện và diễn ra một cách đồng thời trong quá trình dạy và học ngoại ngữ. Chúng vừa là phương tiện và cũng là mục đích của việc học bộ môn này. Trong những năm qua, bước đầu chúng ta đã áp dụng việc đổi mới phương pháp giảng dạy Tiếng Anh nhằm giúp học sinh nắm được cách học một cách chủ động, tích cực và đáp ứng được yêu cầu là học sinh phải sử dụng được ngữ liệu đã học vào các hoạt động giao tiếp một cách có hiệu quả hơn. Do vậy, trong chương trình giảng dạy Tiếng Anh ở trường Tiểu học hiện nay, cùng với giáo trình của BGĐT đưa vào giảng dạy đã nhấn mạnh vào khả năng giao tiếp theo một hệ thống ngữ pháp có kiểm soát cẩn thận. Học sinh được lấy làm trung tâm và luôn được khích lệ giao tiếp với nhau. Qua nhiều năm dạy tiếng Anh cùng với sự trải nghiệm bản thân tôi đã vận dụng một số phương pháp dạy phát âm cho học sinh giúp các em hứng thú, ghi nhớ và tự tin nói khi phát âm trong giao tiếp. Tăng cường thời lượng thực hành như: nói, hoạt động giao tiếp của học sinh trong giờ học là điều cần thiết. Từ nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc dạy và học ngữ âm tiếng Anh nên tôi xin trình bày một số sáng kiến dạy phát âm Tiếng Anh cho học sinh lớp 1,2 như sau: 1.1. Áp dụng tốt các bước dạy ngữ âm cho trẻ
- Trong hầu hết các tiết dạy ngữ âm, tôi đều nghiêm chỉnh chấp hành và phối kết hợp các bước dạy ngữ âm một cách đúng đắn và linh hoạt cho học sinh. Ví dụ : Khi dạy âm của letter D ( Unit 4: Letter D cho học sinh lớp 1), tôi thực hiện các bước như sau: a. Presentation ( giới thiệu): - Đầu tiên để giúp học sinh có thể tự nhắc được tên chữ cái D, tôi cho học sinh nghe bài hát “ABCs song” quen thuộc. Tới chữ cái D, tôi dừng băng đặt câu hỏi cho học sinh “ What letter is it?”. Học sinh trả lời “ letter D”. Và khi giới thiệu xong tên chữ cái D, tôi dùng sachmem.vn để giới thiệu âm của letter D. Cả lớp nghe và nhắc lại âm letter D theo tập thể, nhóm. - Tiếp theo tôi gắn chữ cái D lên bảng, mô tả thêm cách viết letter D cho học sinh. Hướng dẫn học sinh thực hành viết lại trên không. - Hướng dẫn cách học sinh đặt vị trí đầu lưỡi : Đặt đầu lưỡi chạm nhẹ vào đầu chân răng của hàm trên, khép nhẹ hai răng lại, hạ đầu lưỡi xuống và phát âm /d/ thật gọn. - Yêu cầu cả lớp bắt chước đọc lại theo tập thể, nhóm. Gọi cá nhân học sinh phát âm lại và giáo viên sửa lỗi nếu có. b. Practice ( thực hành): - Giáo viên đưa ra một số từ có chữ cái D đứng đầu như: Dog, desk, duck, door lên màn hình hoặc bảng. - Giáo viên sử dụng sachmem.vn, hoặc các thiết bị hỗ trợ dạy học hiện đại như loa, đài, laptop cho học sinh nghe và nhắc lại các từ. - Giáo viên đánh dấu mực đỏ hoặc gạch chân letter D trong mỗi từ sau đó yêu cầu học sinh phát âm letter D, giáo viên chỉ vào từng chữ cái , hướng dẫn học sinh ghép vần đọc lại lần lượt các từ theo tập thể, nhóm, cá nhân và sửa lỗi cho học sinh nếu có. Giáo viên giải thích nghĩa từ bằng tranh, vật thật. c. Production: - Sau khi được học, luyện tập cách phát âm /d/ thông qua 2 bước nêu trên, tôi sẽ giúp học sinh ghi nhớ âm /d/ một cách sâu sắc hơn thông qua một số trò chơi như: slap the board. Tôi viết 2 âm /d/ và /b/ lên bảng (âm /b/ được học trong Unit 1). Giáo viên yêu cầu học sinh nghe cô đọc từ, sau đó phát hiện ra từ có chứa âm đầu /b/ hoặc /d/ để lựa chọn đập vào âm trên bảng sao cho phù hợp. Bằng cách chơi trò chơi này thì học sinh vừa phát triển kĩ năng nghe nhận biết âm, từ vừa ôn luyện ghi nhớ lại được hệ thống các từ đã được học trước đó. - Ngoài ra tôi cũng hay áp dụng trò chơi “ clap your hands” khi ôn lại âm /d/ cho học sinh. Tôi hướng dẫn và làm mẫu cho học sinh trước. Sau đó yêu cầu học sinh cùng bàn quay mặt lại với nhau, miệng đọc D-D ;/d/; /d/ và vỗ tay, đập chéo tay với bạn. Việc áp dụng trò chơi này vào mỗi tiết luyện củng cố âm
- cho học sinh hàng ngày thực sự rất hữu ích. Với trò chơi này học sinh luôn được luyện đi luyện lại nhiều lần âm vừa học. Việc chơi, vỗ tay cùng bạn và đọc âm sẽ giúp học sinh ghi nhớ âm tốt hơn, các em hào hứng hơn và tinh thần thấy thoải mái hơn. - Với giai điệu vui tươi của các bài chant luôn giúp cho các em có một tinh thần học tập phấn khởi, hào hứng vì thế mà tôi luôn sử dụng các bài vè để học sinh đọc theo, rèn phát âm, giúp học sinh ghi nhớ âm tốt hơn. Các bước dạy phát âm nêu trên luôn được tôi áp dụng thành thục trong mối tiết dạy ngữ âm cho mọi khối lớp. 1.2. Liên hệ thực tế a. Liên hệ việc phát âm giống với một số âm thanh quen thuộc trong cuộc sống: - Khi dạy phát âm cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 1, 2. Ở lứa tuổi này nhiều em còn ngọng do việc phát triển ngôn ngữ chưa hoàn thiện vậy nên việc bắt chước cô phát âm khá khó khăn với các em. Có những trường hợp cô chỉnh sửa, uốn nắn rất nhiều lần mà không được. Chính vì thế mà trong quá trình giảng dạy, tôi đã rút ra kinh nghiệm rèn phát âm cho trẻ thông qua việc liên hệ thực tế với một số âm thanh quen thuộc trong cuộc sống như: * Bee sound ( âm thanh của ong): Khi dạy học sinh lớp 2 âm của letter Z/z/ Unit 10: At the zoo. Tôi đặt câu hỏi cho học sinh: “ Khi ong bay sẽ phát ra âm thanh như thế nào?”. Học sinh trả lời bằng cách thực hiện lại âm thanh của ong khi bay. Cả lớp cùng làm theo và mô phỏng lại âm thanh của ong khi bay. Tôi liên hệ sang cách phát âm letter Z. Âm của letter Z khi phát âm cũng giống âm của ong bay, và tôi yêu cầu học sinh mô phỏng lại âm /z/. Ví dụ với các từ cụ thể như: Zoo, zebu, zebra Theo cách làm này học sinh đều ghi nhớ âm rất tốt vì các em được liên hệ với thực tế giúp các em dễ hiểu hơn rất nhiều. * Snake sound ( âm thanh của rắn): Khi dạy âm của letter S trong Unit 3: At the seaside tiếng Anh lớp 2. Tôi đặt câu hỏi cho học sinh: “ Khi con rắn di chuyển phì hơi sẽ phát ra âm thanh như thế nào?”. Học sinh trả lời bằng cách thực hiện lại tiếng phì hơi của rắn. Cô giáo đưa tay ra giả vờ như con rắn đang lao về phía trước, cô mô phỏng âm thanh của con rắn đang phì hơi. Cô yêu cầu cả lớp cùng làm theo và mô phỏng lại âm thanh đó. Tôi liên hệ âm /s/ với âm thanh của rắn ( snake sound) khi phì hơi như thế khiến các em rất thích thú và luyện âm /s/ rất chính xác. Ví dụ với các từ cụ thể như: Sea, sail, sand với cách làm này học sinh đều ghi nhớ âm rất tốt vì các em được liên hệ với thực tế giúp các em dễ dàng ghi nhớ cách phát âm hơn rất nhiều. * Gun sound ( âm thanh của tiếng súng): Khi dạy âm của letter T trong Unit 16: At the campsite tiếng Anh lớp 2, tôi liên hệ âm /t/ với âm thanh của
- tiếng súng ( gun sound). Giáo viên giả vờ đưa 2 ngón tay ra mô phỏng hình ảnh cái súng và miệng phát ra âm thanh tiếng súng bắn. Giáo viên yêu cầu cả lớp bắt chước làm theo ( thậm chí giáo viên có thể giả vờ ngục xuống khi các em mô phỏng việc bắn súng và âm thanh phát ra khi mô phỏng hoạt động đó. Làm như thế khiến các em rất hào hứng đặc biệt là đối với học sinh lớp 1, 2. Nó giúp các em ghi nhớ âm rất tôt). Ví dụ các từ như: tent, teapot,.. b. Liên hệ với âm thanh được tạo ra khi thực hiện một số hoạt động: Những âm thanh được tạo ra khi thể hiện một số hoạt động như hắt xì, thổi hoặc khi ra hiệu giữ im lặng cũng được tôi linh hoạt áp dụng khi dạy phát âm cho trẻ lớp 1,2. * Âm thanh khi ra hiệu cho ai đó giữ im lặng: Khi tôi dạy âm của letter SH trong Unit 15: In the clothes shop. Khi giới thiệu âm của letter SH xong, trong quá trình rèn âm đó và giúp học sinh ghi nhớ âm lâu hơn, tôi đã liên hệ tới âm thanh khi ra hiệu cho ai đó giữ im lặng. Tôi đặt tay lên miệng, chu miệng lại và tạo ra tiếng “suỵt” giống như đang yêu cầu học sinh giữ trật tự và như thế yêu cầu cả lớp làm theo, cùng luyện âm của letter “ sh”. Ví dụ với các từ cụ thể như: Shop, shoe, shirt * Âm được phát ra khi thực hiện hoạt động hắt xì: Khi dạy phát âm của letter CH. Tôi liên hệ và thực hành cho học sinh liên tưởng tới âm của hoạt động hắt xì hơi giáo viên sau khi giới thiệu âm của letter CH xong, trong quá trình rèn âm đó và giúp học sinh ghi nhớ âm lâu hơn, tôi sẽ làm động tác hắt xì hơi và yêu cầu cả lớp làm theo mô phỏng lại giống cô. Việc làm này giúp các em ghi nhớ âm rất tốt. Ví dụ cụ thể là từ : Chair, match * Âm được mô phỏng qua hoạt động thổi: Khi dạy âm của letter TH trong một số từ, tôi liên hệ với việc đẩy hơi từ trong ra và thổi một vật gì đó trong lòng bàn tay bay đi. Tôi đặt mẩu giấy lên lòng bàn tay và làm động tác thổi giấy bay ra khỏi lòng bàn tay. Sau đó hướng dẫn học sinh cùng làm và gọi một hai học sinh bắt chước làm theo. Âm của letter “ TH” được mô phỏng và liên hệ môtyj cách dễ hiểu qua hoạt động thổi. Ví dụ: throw, thick, thin . 2. Tính mới, tính sáng tạo Trong một giờ học tiếng Anh việc giúp các em ghi nhớ từ và phát âm tốt, ngữ điệu đúng là mục tiêu cần phải đạt được. Tuy nhiên các em vẫn rụt rè, thiếu tự tin vì các em không được hoạt động thường xuyên. Với những biện pháp mà tôi đã áp dụng, thực sự đã nâng cao chất lượng của một giờ học ngữ âm Tiếng Anh. Học sinh thực sự là trung tâm và được hoạt động hết mình. Các em được tự mình bày tỏ, mạnh dạn thể hiện trước lớp. Học sinh được tham gia chơi trò chơi để củng cố, ghi nhớ từ vựng sâu hơn và có thể tự tin, vận dụng trong giao tiếp với người nước ngoài.
- 3. Khả năng áp dụng, nhân rộng Dễ áp dụng không những chỉ ở một khối lớp mà còn có thể áp dụng cho các khối lớp. Vì các biện pháp này phù hợp với lứa tuổi học sinh vừa nhẹ nhàng không áp đặt học sinh. Giờ học không còn nặng nề mà trở thành một sân chơi để các em được vừa chơi mà lại học, các em được thể hiện hết mình. 4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp (hiệu quả kinh tế, xã hội) 4.1. Hiệu quả kinh tế - Tiết kiệm thời gian mà giờ học lại đạt hiệu quả cao hơn - Giáo viên tiết kiệm được công sức, giáo viên không phải chuẩn bị các phương tiện dạy học nặng nề, và tốn nhiều thời gian mà giờ học lại thoải mái và có hiệu quả cao hơn, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Giáo viên chỉ cần hướng dẫn các em kiến thức cơ bản và đưa ra yêu cầu và theo dõi, quan sát uốn nắn học sinh còn học sinh mới thực sự là người điều hành, hoạt động. Giáo viên không cần phải nói nhiều mà giờ học vẫn đạt hiệu quả cao. Đồng thời giúp các em ngày càng mạnh dạn, tự tin hơn qua một giờ học thoải mái, nhẹ nhàng. - Tiết kiệm công sức của học sinh vì các em được thoải mái và giải trí sau các tiết học khác. Giúp các em tiếp thu các môn học khác nhanh hơn, dễ hơn và ghi nhớ lâu hơn. 4.2. Hiệu quả về mặt xã hội Giúp các em có vốn kiến thức và tự tin giao tiếp với người nước ngoài, chủ động lĩnh hội các kiến thức thuộc các lĩnh vực khác nhau : Khoa học – kĩ thuật, kinh tế - xã hội, y học Tạo được môi trường học tập nhẹ nhàng, đoàn kết qua đó giúp các em xóa bỏ được cảm giác rụt rè, ngại ngùng trước mọi người và thêm mạnh dạn, tự nhiên hơn. Các em biết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ cùng, xóa đi khoảng cách giữa các học sinh. Qua đó giúp những em có năng khiếu sẽ có cơ hội thể hiện và phát triển, đồng thời giúp các em học sinh yếu không cảm thấy ngại ngùng trước các bạn. Xây dựng cho học sinh tính kỉ luật, tính tổ chức, tính sáng tao, ý thức tự học, tự quản, tự chịu trách nhiệm, mạnh dạn khi giao tiếp. 4.3. Giá trị làm lợi khác - Tạo ra môi trường học tập vui vẻ, tăng động cơ học tập của học sinh Môi trường học tập vui vẻ giúp làm tăng sự hứng thú của học sinh. Học sinh luôn sẵn sàng tham gia giờ học. Việc tạo không khí thi đua giữa các học
- sinh thông qua các trò chơi hay các hình thức tổ chức phong phú sẽ giúp học sinh có động cơ tự nhiên để ôn lại những kiến thức cũ. Học sinh phải hoạt động hết mình. Giáo viên với phong thái sư phạm đúng mực và thái độ nhẹ nhàng ân cần cùng với việc động viên khích lệ kịp thời sẽ giúp tất cả học sinh của mình hứng thú thực sự với giờ học. Trong bầu không khí thư giãn, thoải mái, quá trình học tập mới thực sự diễn ra. - Giúp học sinh thực sự làm chủ, là trung tâm của tiết học, làm tăng động cơ học tập của học sinh, tăng cường sự đoàn kết giúp đỡ bạn CƠ QUAN ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Phạm Thị Lưu

